|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HNGĐ – ST Ngày: 02-8-2024 V/v “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thành Vui
- Bà Trần Xuân Đạm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Cao Thanh Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 165/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2024/QĐHPT ngày 19/7/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Mai Thị T, sinh năm 1989
HKTT: Tổ F, ấp E, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
* Bị đơn: Ông Phạm Hữu K, sinh năm 1991
Địa chỉ: Tổ F, ấp E, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Mai Thị T trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu K có tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 23/11/2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Trước khi kết hôn bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu K có tìm hiểu nhau trong thời gian 03 tháng.
Sau khi kết hôn vợ chồng bà Mai Thị T sống tự lập tại ấp E, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Vợ chồng bà Mai Thị T sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không hạnh phúc nên vợ chồng bà Mai Thị T sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay.
Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không Phạm Hữu K được nên bà Mai Thị T làm đơn xin được ly hôn với ông Phạm Hữu K.
+ Về con chung: Bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu K có 02 con chung:
- Phạm Hữu N, sinh ngày 11/8/2012
- Phạm Thị Khánh V, sinh ngày 15/01/2017
Hiện nay các con đang sống cùng bà T tại ấp E, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Khi ly hôn bà Mai Thị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con chung là Phạm Hữu N, sinh ngày 11/8/2012 và Phạm Thị Khánh V, sinh ngày 15/01/2017.
+ Về yêu cầu cấp dưỡng: Khi ly hôn bà Mai Thị T không yêu cầu ông Phạm Hữu K phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu K không nhận ai làm con nuôi và hiện nay bà Mai Thị T không mang thai
+ Về tài sản chung: Tại phiên tòa bà Mai Thị T khẳng định về tài sản chung tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu K không có nợ ai và không ai nợ bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu K nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Phạm Hữu K vắng mặt nhưng, tại bản tự khai và biên bản ghi lời khai thì ông K khẳng định: ông K thống nhất với lời trình bày của bà T về quan hệ hôn nhân, con chung, đồng ý ly hôn với bà T, yêu cầu được nuôi con chung Phạm Hữu N, đồng ý giao con chung Phạm Thị Khánh V cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc. Về nợ chung không có, về tài sản chung yêu cầu chia căn nhà xây cấp 4 và vườn tiêu tại ấp Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phát biểu ý kiến:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị gì về tố tụng.
- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị T.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Mai Thị T được ly hôn với ông Phạm Hữu K.
+ Về con chung: Bà Mai Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung tên là Phạm Hữu N, sinh ngày 11/8/2012 và Phạm Thị Khánh V, sinh ngày 15/01/2017.
+ Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà Mai Thị T không yêu cầu ông Phạm Hữu K cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
+ Về tài sản chung: Bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu N không yêu cầu nên không xem xét.
+ Về nợ chung: Bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu N khẳng định không có nợ chung và không ai yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Mai Thị T có đơn khởi kiện ly hôn với ông Phạm Hữu K tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền. Xét thấy ông Phạm Hữu K có nơi cư trú tại huyện L, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, biết được Tòa án đang thụ lý và giải quyết ly hôn theo đơn khởi kiện của bà Mai Thị T nhưng vẫn vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu K tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Như vậy, hôn nhân giữa bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu K là hợp pháp.
Theo đơn khởi kiện thì bà Mai Thị T cho rằng vợ chồng sống không hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm. Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Mai Thị T xin được ly hôn với ông Phạm Hữu K.
Trong quá trình giải quyết, ông Phạm Hữu K cũng đồng ý ly hôn với bà T và tại phiên tòa ông K vẫn vắng mặt mà không có lý do. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu K đã trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà Mai Thị T được ly hôn với ông Phạm Hữu K.
+ Về con chung: Bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu K có 02 con chung tên là Phạm Hữu N, sinh ngày 11/8/2012 và Phạm Thị Khánh V, sinh ngày 15/01/2017.
Bà Mai Thị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Cháu Phạm Hữu N cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, cần giao con chung cho bà Mai Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp.
+ Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà Mai Thị T không yêu cầu ông Phạm Hữu K phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về tài sản chung: Bà Mai Thị T khẳng định tự vợ chồng thỏa thuận về tài sản chung và không yêu cầu gì khác. Ông Phạm Hữu K yêu cầu chia căn nhà xây cấp 4 và vườn tiêu tại ấp Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước. Tòa án đã giải thích cho ông K về quyền yêu cầu chia tài sản chung nhưng ông K không làm đơn yêu cầu theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét giải quyết trong cùng vụ án này. Ông K được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung ở vụ án khác khi ông K có đơn yêu cầu.
+ Về nợ chung: Bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu K khẳng định không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà Mai Thị T phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện L là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 39 Bộ luật dân sự;
- Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 84, 85, 86 và 87 Luật hôn nhân gia đình;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị T.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Mai Thị T được ly hôn với ông Phạm Hữu K.
2/ Về con chung: Bà Mai Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên là Phạm Hữu N, sinh ngày 11/8/2012 và Phạm Thị Khánh V, sinh ngày 15/01/2017.
3/ Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Mai Thị T không yêu cầu ông Phạm Hữu K phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
4/ Về tài sản chung: Bà Mai Thị T và ông Phạm Hữu K không có yêu cầu trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
5/ Về nợ chung: Bà Mai Thị T khẳng định không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
6/ Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Mai Thị T phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí bà Mai Thị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước theo biên lai thu tiền số: 0006282 ngày 14/5/2024.
7/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Quyết |
Bản án số 37/2024/HNGĐ – ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHO CÁC ĐƯƠNG SỰ LY HÔN
