Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN THẠNH

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 01-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Vũ Văn Quân.

Ông Nguyễn Vĩnh Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tý – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/HSST ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, Thông báo số 483/2024/TB.TA ngày 25/7/2024 về thay đổi thời gian mở phiên tòa đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu V; Sinh ngày: 15/10/1994; Nơi sinh: T - Long An; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con của ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị P; vợ: Đinh Thị Bảo C, sinh năm 1995, đã ly hôn năm 2021; con: có 01 người, sinh năm 2019; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2024, đến ngày 02/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Long An (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Bà Võ Thị P, sinh năm: 1962. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Anh Võ Thanh T, sinh năm: 1997. Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2023, Nguyễn Hữu V, có quen biết với Võ Thanh T và biết T có sử dụng ma túy nên khoảng giữa tháng 02/2024, V gọi điện thoại liên lạc cho T hỏi mua ma túy nhưng T nói không bán ma túy và cho V số điện thoại của C1 (không rõ nhân thân, lai lịch). T kêu V tự liên hệ mua ma túy. Sau đó, V gọi điện thoại liên lạc cho C1 mua 1.500.000 đồng ma túy đá, đem về nhà sử dụng một mình hết số ma túy trên. Đến ngày 19/02/2024, V có nhu cầu sử dụng ma túy tiếp nên sử dụng di động nhãn hiệu VIETTEL, gắn sim số 0984.334.xxx, tiếp tục gọi điện thoại cho C1 hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy, C1 đồng ý bán và hẹn V đến đường N, thuộc thành phố T, tỉnh Long An gặp C1 nhận ma túy. Đến chiều cùng ngày, V điều khiển xe mô tô do V mượn của ông N, đến địa điểm hẹn gặp C1 nhận 01 túi nylon có rãnh khép viền màu trắng, bên trong có chứa chất ma túy, V đưa cho C1 số tiền 1.000.000 đồng, còn thiếu lại C1 số tiền 500.000 đồng. Sau đó, V điều khiển xe mô tô đem ma túy về nhà ông Nguyễn Văn N (cha ruột của V) tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Sau khi về đến nhà, V vào phòng ngủ của V lấy một ít ma túy cho vào nỏ thủy tinh sử dụng một mình. Đến ngày 20/02/2024, V tiếp tục lấy một ít ma túy cho vào nỏ thủy tinh sử dụng, số ma túy còn lại V để trong túi nylon có rãnh khép viền màu trắng cất giấu trong ngăn kéo túi xách màu nâu, để trong phòng ngủ của V. Đến ngày 21/02/2024, ông Nguyễn Văn N phát hiện V có hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy nên đến Công an xã T, huyện T trình báo sự việc. Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 22/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hữu V tại nhà ông Nguyễn Văn N và phát hiện, tạm giữ 01 túi nylon có rãnh khép viền màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, dạng rắn, nghi là chất ma túy được để trong túi xách màu nâu trong phòng ngủ của V. Qua điều tra Nguyễn Hữu V tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Tại Bản Kết luận giám định số 117/KL-KTHS, ngày 28/02/2024 của Phòng K, Công an tỉnh L. Kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nylon có rãnh khép viền màu trắng được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,9015 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKSTT, ngày 04/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo Nguyễn Hữu V tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đồng thời phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Vật chứng trong vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự xử lý vật chứng như sau:

+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng trong vụ án gồm: Chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 1,6275 gam, loại Methamphetamine, được đóng gói niêm phong số 117; 01 ống hút nhựa màu trắng, dài 20cm, 01 ống thủy tinh dài 17cm đều đã qua sử dụng, là dụng cụ bị cáo Nguyễn Hữu V dùng để sử dụng trái phép chất ma túy; 01 túi xách màu nâu, trên túi có chữ NaVy, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hữu V, sử dụng để cất giấu ma túy;

+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, màu xám, số IMEI 1: 358735063517386, số IMEI 2: 358735063517394, bên trong có gắn thẻ sim số 0984334438, đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo Nguyễn Hữu V sử dụng liên lạc để mua ma túy.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và quan điểm luận tội do đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày bị cáo đã ăn năn, hối hận về hanh vi của mình, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức án thấp nhất để bị cáo sớm về làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được cơ quan điều tra lấy lời khai, cho tự viết tự khai, tường trình nêu rõ sự việc, ý kiến, yêu cầu của mình. Trong thời gian chuẩn bị xét xử cũng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên xét thấy đã đủ đều kiện xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội:

Bị cáo Nguyễn Hữu V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được: Vào ngày 19/02/2024, Nguyễn Hữu V đã mua ma túy từ một người tên C1 (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 1.500.000 đồng để về sử dụng. Sau khi mua được ma túy đem về nhà, V lấy một ít ma túy ra sử dụng 02 lần tại phòng ngủ của V tại nhà ông Nguyễn Văn N (cha của ruột V) tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Phần ma tuý còn lại chưa sử dụng V để trong túi nylon có rãnh khép viền màu trắng, cất giấu trong ngăn kéo túi xách màu nâu, để trong phòng ngủ của V. Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 22/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hữu V và tạm giữ 01 túi nylon có rãnh khép viền màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, dạng rắn, được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,9015 gam.

Xét thấy bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và biết hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi mua ma túy về cất giấu để sử dụng và bị phát hiện, thứ giữ 1,9015 gam nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Hữu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm, trái pháp luật, bị cáo biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện, làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý, nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý. Ngoài ra, việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải được nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[7] Từ phân tích trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về hình phạt bổ sung: đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nghề nghiệp làm thuê, công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về các vấn đề có liên quan trong vụ án:

[9.1] Đối với người thanh niên tên C1 (không rõ nhân thân, lai lịch) bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Hữu V, V và Võ Thanh T đều không biết rõ nhân thân, lai lịch của C1. V và T đã xóa dữ liệu cuộc gọi, không lưu số điện thoại của C1. Trong quá trình điều tra V và T đều không nhớ rõ số điện thoại của C1. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xác định được nhân thân, lai lịch của C1 nên không có cơ sở xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.

[9.2] Đối với Nguyễn Hữu V có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đề nghị Công an huyện T ra Quyết định xử phạt hành chính theo quy định. Ngày 26/4/2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Hữu V về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền là 1.500.000 đồng.

[9.3] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Thanh T: Qua điều tra, Nguyễn Hữu V có khai nội dung “V có mua ma túy của Võ Thanh T khoảng 01 - 02 lần để sử dụng nhưng không nhớ rõ thời thời gian nào”. Tuy nhiên, Võ Thanh T trình bày chỉ sử dụng trái phép chất ma túy, T không bán trái phép chất ma túy cho ai và không bán cho V. Khoảng tháng 02/2024, T chỉ cho V số điện thoại của C1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để V tự liên hệ mua ma túy, còn việc V có mua ma túy của C1 không thì T hoàn toàn không biết. Kết quả điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có tài liệu, chứng cứ chứng minh Võ Thanh T có bán trái phép chất ma tuý cho V nên không có cơ sở xem xét xử lý trong vụ án.

[9.4] Đối với ông Nguyễn Văn N (cha ruột của V) và bà Võ Thị P (mẹ ruột của V) cùng sống chung nhà với bị cáo Nguyễn Hữu V nhưng ông N, bà P không biết V có hành vi cất giấu ma tuý tại phòng ngủ của V để tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy. Sau đó, ông N phát hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của V nên đã đến Công an trình báo sự việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý đối với ông N là đúng quy định pháp luật.

[10] Về vật chứng: căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, xử lý vật chứng như sau:

[10.1] Chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 1,6275 gam, loại Methamphetamine, được đóng gói niêm phong số 117 là vật chứng bị cáo tàng trữ để sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;

[10.2] Đối với 01 (Một) ống hút nhựa màu trắng, dài 20cm, đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh dài 17cm, đã qua sử dụng, là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy;

[10.3] Đối với 01(Một) túi xách màu nâu, trên túi có chữ NaVy, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hữu V, sử dụng để cất giấu ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy;

[10.4] Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, màu xám, số IMEI 1: 358735063517386, số IMEI 2: 358735063517394, bên trong có gắn thẻ sim số 0984334438, đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo Nguyễn Hữu V sử dụng liên lạc để mua ma túy nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu V 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ (ngày 22/02/2024).

  3. Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hữu V 45 ngày kể từ ngày tuyên án (01/8/2024) để đảm bảo thi hành án.

  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự;

    4.1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng: Chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 1,6275 gam, loại Methamphetamine; 01 ống hút nhựa màu trắng, dài 20cm, đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh dài 17cm, đã qua sử dụng; 01 túi xách màu nâu, trên túi có chữ NaVy, đã qua sử dụng.

    4.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, màu xám, số IMEI 1: 358735063517386, số IMEI 2: 358735063517394, bên trong có gắn thẻ sim số 0984334438, đã qua sử dụng.

Hiện tất cả vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh đang tạm giữ biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2024.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Nguyễn Hữu V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  2. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An
  • - VKSND huyện Tân Thạnh;
  • - CA huyện Tân Thạnh;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger