Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/DS-ST

Ngày: 01-8-2024

V/v Tranh chấp đòi đất cho ở nhờ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Ngài
  2. Ông Nguyễn Văn Thắng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu, Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Phạm Văn Tính – Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm rút kinh nghiệm bằng hình thức công khai trực tuyến vụ án dân sự thụ lý số: 181/2023/TLST-DS, ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi đất cho ở nhờ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Đoàn Đình L, sinh năm 1993 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Số A N, Khóm H, phường G, Thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

  3. Bị đơn: Ông Hàng Chí B, sinh năm 1973 (có mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H của Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).

  5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • - Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh
    • Địa chỉ: Khóm C, Thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

    • - Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975 (có mặt)
    • - Anh Hàng Văn S, sinh năm 1996 (có mặt)
    • Cùng địa chỉ: Ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

    • - Ông Võ Thanh H1, sinh năm 1972 (có mặt)
    • - Bà Võ Thị Hồng L1, sinh năm 1942
    • Cùng địa chỉ: Địa chỉ: Số A T, phường A, Thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

    Người đại diện hợp pháp cho ông H1, bà L1 có ông Đoàn Đình L, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số A N, Khóm H, phường G, Thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/5/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Đoàn Đình L trình bày: Tôi là chủ sử dụng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 133, tờ bản đồ số 39, diện tích 576,0m² (thực đo 555,6m²) toạ lạc tại ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nguồn gốc phần diện tích đất trên là của bà ngoại tên Võ Thị Hồng L1 tặng cho con tên Võ Thanh H1 vào năm 2018. Đến năm 2022 ông Võ Thanh H1 chuyển nhượng cho tôi đứng tên quyền sử dụng đất trên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DK 408359, số vào sổ cấp GCN: CS 11829 ngày 16/01/2023 đứng tên ông Đoàn Đình L.

Trước đây gia đình ông Hàng Chí B (là cháu bà Võ Thị Hồng L1 kêu bằng dì) được bà L1 cho cất nhà ở nhờ ngang 7,6m dài 17,80m diện tích 135,3m² đến khi nào cần sử dụng thì ông B trả lại, ông B có làm giấy cam kết cho ông H1 (con bà L1). Sau khi ông H1 chuyển nhượng đất cho tôi thì tôi và ông H1 có yêu cầu gia đình ông B di dời nhà trả đất cho tôi thì gia đình ông B không đồng ý, có hành vi chiếm dụng, làm xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi. Sự việc cũng đã được Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh hòa giải ông B đồng ý di dời nhưng không thống nhất thời gian di dời nên không thành.

Nay tôi yêu cầu Toà án giải quyết buộc gia đình ông Hàn Chí B1, bà Nguyễn Thị T, anh Hàng Văn S phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng nhà ở và tài sản trên đất ngang 7,6m dài 17,80m diện tích 135,3m² trong tổng diện tích 576,0m² thuộc thửa đất số 133, tờ bản đồ số 39, toạ lạc tại ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh trả cho tôi.

Tại đơn phản tố đề ngày 21/3/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Đoàn Đình L trình bày: Thửa đất số 133, tờ bản đồ số 39, diện tích 576,0m² (thực đo 555,6m²) toạ lạc tại ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh có nguồn gốc là của ông ngoại tôi tên Trần Văn N, sinh năm 1897 (chết năm 1958) và bà ngoại tôi tên Nguyễn Thị T1, sinh năm 1910 (chết năm 1985). Trước đây, phần đất này thuộc thửa đất 356, tờ bản đồ số 7, diện tích 510m². Diễn biến của thửa đất 356, diện tích 510m² được thể hiện như sau:

Năm 1983, bà Võ Thị Hồng L1 là dì ruột tôi (bà L1 là bà ngoại của nguyên đơn ông L) đăng ký kê khai cho cả hộ gia đình (Trong đó có tôi Hàng Chí B và anh em ruột tôi gồm 05 thành viên). Năm 1996, bà L1 tiếp tục kê khai và xin cấp quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bà L1 và ngày 29/7/1997 hộ gia đình bà L1 được cấp quyền sử dụng đất (trong đó có cả gia đình tôi gồm 05 thành viên). Năm 2014, bà L1 chuyển về sinh sống tại thị xã T (nay là thành phố T) thì bà L1 cắt chuyển hộ khẩu. Sau đó bà L1 tự ý lập đổi hộ gia đình để loại bỏ 05 thành viên của chúng tôi ra. Năm 2018, bà L1 tự ý lập hợp đồng cho tặng con ruột của bà L1 là ông Võ Thanh H1 toàn bộ thửa đất 133, diện tích 576 m². Năm 2022, ông H1 lại lập thủ tục chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 133, diện tích 576 m² cho người cháu ruột là nguyên đơn ông Đoàn Đình L. Việc bà L1 cho ông H1 đất và sau đó ông H1 chuyển nhượng đất cho ông L thì tôi không biết nhưng trên thực tế toàn bộ thửa đất 133 nêu trên tôi đang quản lý, sử dụng và cất nhà kiên cố bằng bê tông cốt thép để ở rất lâu đời, trên đất còn có 02 ngôi mộ của ông bà ngoại tôi, tôi là người quản lý và chăm lo mồ mã hàng ngày.

Trước đây theo thỏa thuận của gia đình thì trong thửa đất 133 nêu trên dòng họ đồng ý để tôi thụ hưởng 1/2 diện tích đất đất khoảng 288m² và tôi phải giữ gìn đất, chăm lo mồ mã cho ông bà ngoại. Với lý do trên, tôi yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Võ Thị Hồng L1 với ông Võ Thanh H1 và hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Võ Thanh H1 với ông Đoàn Đình L đối với diện tích đất 576 m², thuộc thửa đất số 133, tờ bản đồ 39, tọa lạc tại: ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Công nhận cho tôi phần đất có diện tích 288m², nằm trong tổng diện tích chung 576m², thuộc thửa đất số 133, tờ bản đồ 39, tọa lạc tại: ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ Thanh H1: Thống nhất lời trình bày của nguyên đơn không có ý kiến bổ sung.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T, anh Hàng Văn S: Thống nhất lời trình bày của bị đơn không có ý kiến bổ sung.

Ý kiến của ông Nguyễn Thanh H là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Năm 1996 thửa đất số 133 được cấp cho hộ bà Võ Thị Hồng L1, trong hộ bà L1 có bà Trần Thị Á là mẹ ruột ông B và ông B cùng chung thành viên hộ, khi bà L1 lập hợp đồng tặng cho con là ông Võ Thanh H1 nhưng ông H1 không có sử dụng đất mà chuyển nhượng lại cho ông Đoàn Đình L, khi đó trên đất có nhà ông B mà không có ý kiến của ông B là không đảm bảo về trình tự thủ tục cấp giấy. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn huỷ hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Võ Thị Hồng L1 với ông Võ Thanh H1 và hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Võ Thanh H1 với ông Đoàn Đình L đối với diện tích đất 576 m², thuộc thửa đất số 133, tờ bản đồ 39, tọa lạc tại: ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh để công nhận cho ông B phần đất có diện tích 288m², nằm trong tổng diện tích chung 576m², thuộc thửa đất số 133, tờ bản đồ 39, tọa lạc tại: ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Từ khi thụ lý vụ án nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện nghiêm nghĩa vụ và quyền của mình tại các Điều 70, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự vì còn vắng mặt tại các buổi hòa giải.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Đình L. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Hàng Chí B. Buộc ông Hàng Chí B hoàn trả lại giá trị đất cho ông Đoàn Đình L đối với diện tích 171,4m² (phần B) nằm trong tổng diện tích chung thực đo 555,6 m², thuộc thửa đất số 133, tờ bản đồ 39, tọa lạc tại: ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh số tiền 428.500.000đ. Buộc đương sự có nghĩa vụ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trừ trường hợp không phải nộp, miễn nộp; chịu chi phí khảo sát và định giá, theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 133, diện tích chung 576m² (thực đo 555,6m²), tờ bản đồ 39, tọa lạc tại: ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nguyên đơn ông Đoàn Đình L cho rằng nguồn gốc đất là của bà ngoại tên Võ Thị Hồng L1 tặng cho con tên Võ Thanh H1. Đến năm 2022 ông Võ Thanh H1 chuyển nhượng cho ông. Ngày 16/01/2023 ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất nêu trên. Do đó, ông L yêu cầu hộ ông Hàng Chí B di dời nhà, cây trồng và các tài sản khác để trả lại đất cho ông. Phía bị đơn ông Hàng Chí B không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L và có đơn phản tố yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Võ Thị Hồng L1 với ông Võ Thanh H1 và hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Võ Thanh H1 với ông Đoàn Đình L vì cho rằng phần đất tranh chấp thửa số 133 có nguồn gốc của ông ngoại tên Trần Văn N (chết năm 1958) và bà ngoại tên Nguyễn Thị T1 (chết năm 1985). Trước đây theo thỏa thuận của gia đình thì dòng họ đồng ý để cho ông thụ hưởng 1/2 diện tích đất khoảng 288m² và ông phải giữ gìn đất, chăm lo mồ mã cho ông bà ngoại. Vụ kiện này đã được Tòa án thụ lý “Tranh chấp đòi đất cho ở nhờ”. Nhưng trong quá trình giải quyết, bị đơn có đơn phản tố nêu trên nên xác định lại quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Càng Long theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về vắng mặt các đương sự tại phiên tòa, ông Nguyễn Hữu K có đơn xin vắng mặt, bà Võ Thị Hồng L1 uỷ quyền cho ông Đoàn Đình L, ông Trầm Phú L2 là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn yêu cầu chấm dứt tham gia tố tụng theo đơn đề nghị của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[3] Về nội dung vụ án: Qua xác nhận lời khai bà Lê Thị T2, bà Võ Thị T3, bà Nguyễn Thị T4 là những người sinh sống gần phần đất tranh chấp; ông Đặng Thành C là Trưởng ban nhân dân Ấp 6A, xã A và hồ sơ về trình tự thủ tục cấp giấy kèm theo Công văn số 776/UBND-NC ngày 14/3/2024 của Ủy ban nhân dân huyện C. Xác định, phần đất tranh chấp diện tích thuộc thửa đất số 133, diện tích chung 576m² (thực đo 555,6m²) tờ bản đồ 39, tọa lạc tại: ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh có nguồn gốc của vợ chồng cụ Trần Văn N (chết năm 1958) và cụ Nguyễn Thị T1 (chết năm 1985). Hai cụ có 02 người con: Võ Thị Hồng L1 (bà ngoại ông Đoàn Đình L) và Trần Thị Á (mẹ ruột ông Hàng Chí B). Quá trình sử dụng đất vợ chồng cụ N và cụ T1 có cất nhà lá để ở nhưng không có giấy tờ về thửa đất trên. Sau khi hai cụ chết, bà Võ Thị Hồng L1 tiếp tục ở nhà lá và sử dụng đất cùng nền mộ ông bà trên thửa đất này. Năm 1985 gia đình bà Trần Thị Á trong đó có ông B là con bà Á về ở chung. Đến năm 2009 ông B và bà Á cất nhà cấp 4 kế bên nhà lá trên thửa đất 133 để ở thờ cúng và buôn bán thì ông H1 (con bà L1) ngăn cản nhưng ông B cam kết sẽ trả đất khi bà L1 và ông H1 đòi đất. Quá trình sử dụng đất, bà L1 có đăng ký kê khai năm 1983 đến năm 1996 hộ bà L1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 356. Ngày 26/9/2014 bà L1 đề nghị cấp đổi lại thành thửa 133 như nêu trên. Sau đó, bà L1 không ở trên phần đất này mà dời về ở Khóm A, phường F, Thành phố T nên ngày 12/9/2018 bà L1 lập hợp đồng tặng thửa đất 133 cho con tên Võ Thanh H1 đến ngày 16/12/2022 ông H1 chuyển nhượng cho cháu tên Đoàn Đình L, việc chuyển nhượng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phù hợp với quy định pháp luật, không ai phát sinh tranh chấp. Năm 2018 khi bà Á chết, ông Đoàn Đình L yêu cầu gia đình ông B di dời nhà trả đất thì phát sinh tranh chấp.

[4] Tại phiên toà, nguyên đơn ông Đoàn Đình L tự nguyện xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất số 133, diện tích chung 576m² (thực đo 555,6m²) mà chỉ yêu cầu giải quyết diện tích 288m² (thực đo 171,4m²) gắn liền nên nhà cấp 4 do ông Hàng Chí B sử dụng. Do phần diện tích còn lại của thửa 133 không tranh chấp hiện L đang sử dụng và việc rút yêu cầu trên là tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ phần diện tích còn lại không tranh chấp này.

[5] Xét yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn thấy rằng, theo xác nhận của bà Hàn Thị Bích T5, bà Hàn Thị Bích L3, ông Hàng Chí H2, ông Hàng Văn Q là anh chị em ruột của ông Hàng Chí B đều xác nhận nguồn gốc đất tranh chấp thửa 133 là của bà Võ Thị Hồng L1 cho ông B ở nhờ; ngày 07/3/2009 ông B có ký giấy cam kết xin cất nhà ở nhờ khi nào bà L1 và ông H1 đòi sẽ trả lại; Tại biên bản hoà giải ngày 23/02/2023 của Tổ hoà giải Ấp F, ông B có ý kiến thống nhất trả đất nhưng xin thời hạn 24 tháng. Tại phiên Toà, ông B cho rằng việc thừa nhận ở nhờ là do bị ép buộc nhưng ông B không có trình báo chính quyền địa phương về việc bị ép buộc này, đồng thời ông B cũng không có tranh chấp hay yêu cầu gì đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết phần đất ông B đang sử dụng. Khi đó, ông B cho rằng, thửa 133 tại thời điểm năm 1996 khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà L1 thì có mẹ ông là bà Trần Thị Á và ông B cùng chung hộ và theo thỏa thuận của gia đình thì dòng họ đồng ý để cho ông B thụ hưởng 1/2 diện tích đất khoảng 288m² để ông B chăm lo mồ mã cho ông bà nhưng không có gì chứng minh việc thoả thuận cho đất như ông B trình bày, qua xác minh thành viên hộ bà Võ Thị Hồng L1 tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996 thì Công an huyện C không trích lục cung cấp được. Như vậy, gia đình ông B ở nhờ trên phần đất tranh chấp thửa 133 như trình bày của ông L là có căn cứ. Đối với yêu cầu phản tố của ông B là không có căn.

[6] Xét nguyên đơn ông L yêu cầu gia đình ông B di dời nhà trả đất. Thấy rằng, ông L cùng vợ con đã ở trên phần đất này từ rất lâu khi bà Á còn sống và đã cất nhà kiên cố để ở và thờ cúng ông bà từ năm 2009 nên không thể tháo dở để di dời được, hiện nay, ngoài chổ ở này thì gia đình ông L không còn chổ ở nào khác, ông L cũng đồng ý cho gia đình ông B tiếp tục ở nhưng phải trả giá trị đất từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng/một mét ngang còn tính theo giá của Hội đồng định giá để hỗ trợ di dời cho ông B thì ông L không đồng ý. Như vậy nghỉ nên tiếp tục cho gia đình ông B cùng vợ bà Nguyễn Thị T và con Hàng Văn S được ở và sử dụng phần đất gắn liền căn nhà diện tích 171,4m² (theo kết quả đo đạc thể hiện trong sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 30/CNHCL ngày 29/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C). Đồng thời, ông B phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị đất trên cơ sở biên bản định giá ngày 22/3/2024 của Hội đồng định giá cho ông L bằng số tiền 428.500.000 đồng (171,4m² x 2.500.000 đồng/m²) là phù hợp với quy định pháp luật. Đối với tài sản khác nằm ngoài phạm vi đất được giao cho gia đình ông B sử dụng như nhà phụ, chuồng gà, cây chuối, cây mít, cây mận...ông B phải có nghĩa vụ di dời để ông L sử dụng phần diện tích còn lại của thửa đất 133.

[7] Lời đề nghị của Vị luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn phù hợp một phần với nhận định trên về việc tiếp tục cho ông B được tiếp tục sử dụng phần đất gắn liền căn nhà diện tích 171,4m². Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.

[8] Về chi phí thẩm định, định giá: Tổng chi phí chi thẩm định, định giá 3.800.000 đồng, ông L đã nộp tạm ứng xong. Do yêu cầu phản tố của ông Hàng Chí B không được chấp nhận nên ông B phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá trên và sẽ được hoàn trả lại cho ông L.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hàng Chí B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng do không được chấp nhận yêu cầu huỷ hợp đồng và phải chịu án phí có giá ngạch 21.140.000 đồng trên giá trị tài sản phải thanh toán cho nguyên đơn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 158, Điều 166, Điều 164, Điều 168 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 20, Điều 100, Điều 166, Điều 170, Điều 179, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử

  1. Chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Đình L.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hàng Chí B.

    - Buộc ông Hàng Chí B phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Đoàn Đình L số tiền 428.500.000 đồng (Bốn trăm hai mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    - Hộ ông Hàng Chí B cùng vợ bà Nguyễn Thị T và con Hàng Văn S được sử dụng phần đất gắn liền căn nhà tường cấp 4 diện tích 171,4m², loại đất ở, nằm trong tổng diện tích chung 576m² (thực đo 555,6m²) thuộc thửa đất số 133, tờ bản đồ 39, tọa lạc tại: ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Phần đất thuộc phần (B) thể hiện trong sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 30/CNHCL ngày 29/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C) có vị trí tứ cận:

    • Hướng Tây-Bắc giáp đường H nhựa có cạnh dài 9,0 mét ;
    • H-Nam giáp phần còn lại thửa 133 có cạnh dài 9,32 mét;
    • Hướng Tây-Nam giáp phần còn lại thửa 133 có cạnh dài 18,24 mét;
    • H-Bắc giáp thửa 134 có cạnh dài 19,37 mét

    Để đảm bảo cho việc thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật, nghiêm cấm các bên hủy hoại mục đích sử dụng đất cho đến khi thi hành án xong. Đối với tài sản khác nằm ngoài phạm vi đất được giao cho gia đình ông B sử dụng như nhà phụ (nhà tạm), chuồng gà, cây chuối, cây mít, cây mận...ông B phải có nghĩa vụ di dời để ông L sử dụng phần diện tích còn lại của thửa đất 133 nêu trên.

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích nằm ngoài phần đất bị đơn phản tố trong tổng diện tích chung 576m² (thực đo 555,6m²) thuộc thửa đất số 133, tờ bản đồ 39, tọa lạc tại: ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  4. Về chi phí thẩm định, định giá: Ông Hàng Chí B phải nộp chi phí thẩm định, định giá số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm ngàn đồng). Ông Đoàn Đình L được nhận lại số tiền tạm ứng chi phí thẩm định, định giá số tiền 3.800.000 đồng sau khi Chi cục Thi hành án thu từ ông B giao cho ông L.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hàng Chí B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và nộp 21.140.000 đồng (Hai mươi mốt triệu một trăm bốn mươi ngàn đồng) án phí có giá ngạch, ông B được cấn trừ tiền án phí vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.570.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002342 ngày 27/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Số tiền còn thiếu ông B tiếp tục nộp. Ông Đoàn Đình L được nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0019639 ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt tại phiên có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Trà Vinh ;
  • -VKSND huyện Càng Long;
  • -CCTHADS huyện Càng Long;
  • -Các đương sư;
  • -Lưu HS,TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Huỳnh Liêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 01/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp đòi đất cho ở nhờ.

  • Số bản án: 37/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi đất cho ở nhờ.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Đình Lộc. 2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hàng Chí Bảo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger