|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————————— |
Bản án số: 37/2025/LĐ-ST
Ngày: 07/3/2025
V/v tranh chấp bảo hiểm xã hội.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thu Phương.
| Các hội thẩm nhân dân | : Phạm Thế Hùng |
| : Cao Quốc Hưng |
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai vụ án lao động thụ lý số 260/2024/TLST-LĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10170/2024/QĐXXST-LĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 304/2025/QĐST-LĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 762/2025/QĐXXST-LĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Hồng N, sinh năm 1989;
Địa chỉ: T, T, T, Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Ngọc H và bà Dương Thị T (theo Giấy ủy quyền ngày 24/4/2024)
- Bị đơn: Công ty TNHH I;
Trụ sở: Phòng 5.09, Lầu E, Tòa nhà S, Số A P, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Victor Ching B.
Địa chỉ: E H, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông Vũ Ngọc H và bà Dương Thị T có đề nghị vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 18/3/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – bà Huỳnh Thị Hồng N có người đại diện theo ủy quyền - ông Vũ Ngọc H và bà Dương Thị T trình bày:
Từ ngày 26/12/2018, bà N được tuyển dụng vào làm việc cho Công ty TNHH 11, địa chỉ làm việc tại ở Công ty TNHH I1 – Chi nhánh Đ và chi nhánh B1. Quá trình làm việc tại công ty, ngày 04/3/2022 giữa bà N và Công ty có giao kết hợp đồng lao động số 00988/HĐLĐ-IN-CN thời hạn từ ngày 11/3/2022 đến ngày 11/3/2025. Công việc của bà N: công nhân thợ may; Mức lương đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ việc: 5.742.000 đồng/tháng.
Ngày 14/3/2023, căn cứ vào thỏa thuận chấm dứt hợp đồng với người lao động, công ty đã có quyết định thôi việc số 00988/QĐNV cho bà N nghỉ việc kể từ ngày 14/3/2023. Quá trình làm việc tại công ty, hàng tháng công ty đều trừ lương của bà N để tham gia các loại bảo hiểm xã hội theo quy định gồm Bảo hiểm xã hội 8% (BHXH), Bảo hiểm y tế 1,5% (BHYT) và Bảo hiểm thất nghiệp 1% (BHTN). Sau khi nghỉ việc bà N nhiều lần liên hệ công ty để nhận tờ rời chốt sổ bảo hiểm xã hội nhưng công ty không giải quyết. Đến nay bà N kiểm tra quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện X và đối chiếu với tờ rời bảo hiểm xã hội thì biết được công ty chỉ mới đóng và xác nhận thời gian tham gia bảo hiểm xã hội cho bà N đến hết tháng 9/2021, thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 11/2021 và thời gian từ tháng 03/2022 hết tháng 02/2023 công ty chưa đóng bảo hiểm xã hội, chưa xác nhận hết quá trình tham gia bảo hiểm xã hội cho bà N theo quy định của pháp luật. Trong đó thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 11/2021 công ty T1 cho bà N tại Bảo hiểm xã hội huyện X, thời gian từ tháng 03/2022 hết tháng 02/2023 công ty T1 cho bà N tại Bảo hiểm xã hội huyện H, Bình Thuận.
Nhận thấy việc công ty hàng tháng đều trừ tiền lương của bà N để tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không đóng cho cơ quan Bảo hiểm xã hội, không xác nhận hết thời gian tham gia bảo hiểm xã hội cho bà N là không đúng quy định của pháp luật.
Do đó, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xem xét giải quyết như sau: Buộc Công ty TNHH I phải đóng bảo hiểm xã hội cho bà N tại Bảo hiểm xã hội huyện X từ tháng 10/2021 đến tháng 11/2021 là 02 tháng; đóng bảo hiểm xã hội cho bà N tại Bảo hiểm xã hội huyện H từ tháng 03/2022 đến hết tháng 02/2023 là 12 tháng; Xác nhận thời gian đóng bảo hiểm cho bà N theo quy định pháp luật.
Bị đơn Công ty TNHH I vắng mặt nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được ý kiến trình bày và tài liệu, chứng cứ do Công ty TNHH I giao nộp.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ trình tự, thủ tục luật định.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn - bà Huỳnh Thị Hồng N khởi kiện bị đơn Công ty TNHH I về tranh chấp tiền bảo hiểm xã hội. Bà N và Công ty TNHH I có giao kết hợp đồng lao động số 00988/HĐLĐ-IN-CN ngày 04/3/2022, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động theo Quyết định thôi việc số 00988/QĐTV ngày 14/3/2024. Bà N đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty TNHH I nên bà N không khởi kiện về việc chấm dứt hợp đồng lao động mà chỉ tranh chấp tiền bảo hiểm. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần phải giải quyết là: “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”.
Thẩm quyền giải quyết: Vụ việc bà Huỳnh Thị Hồng N khởi kiện tranh chấp về Bảo hiểm xã hội đối với Công ty TNHH I có nội dung phù hợp pháp luật thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là Công ty TNHH I có trụ sở hoạt động chính tại thành phố T nên căn cứ tại điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về tố tụng và phạm vi giải quyết vụ án:
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn Công ty TNHH I vắng mặt không có lý do, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn Công ty TNHH I. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Xét trách nhiệm đóng các khoản bảo hiểm của Công ty TNHH I và người lao động không thuộc trách nhiệm dân sự theo thỏa thuận hợp đồng, mà trách nhiệm luật định theo Luật Bảo hiểm xã hội quy định nên xét không cần thiết phải tiến hành hòa giải và không cần thiết phải đưa Bảo hiểm xã hội thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án;
- Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, theo điểm d khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019 thì tranh chấp về tiền bảo hiểm xã hội không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải cơ sở. Ngày 14/3/2023, Công ty TNHH I ra Quyết định nghỉ việc số 000988/QĐNV cho bà N nghỉ việc. Ngày 19/3/2024, Bảo hiểm xã hội huyện X xác nhận quá trình đóng bảo hiểm xã hội cho bà N và biết được Công ty TNHH I chưa nộp đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội đối với bà N. Ngày 25/6/2024, bà N nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động quy định thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân như sau: “Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”. Như vậy, căn cứ khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động, đơn khởi kiện của bà N còn trong thời hiệu khởi kiện.
[3] Xét các yêu cầu của nguyên đơn:
[3.1] Nguyên đơn trình bày trong suốt quá trình làm việc tại công ty, giữa bà N và Công ty TNHH I có giao kết hợp đồng lao động số 00988/HĐLĐ-IN-CN ngày 04/3/2022 với thời hạn từ ngày 11/3/2022 đến ngày 11/3/2025 và thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động theo Quyết định thôi việc số 00988/QĐTV ngày 14/3/2023 cho bà N nghỉ việc kể từ ngày 14/3/2023 trong quyết định thôi việc có thể hiện: “ngày nhận việc 04/3/2021, nghỉ việc kể từ ngày 14/3/2023”. Mặc dù bà N đã làm việc trước thời gian ký kết hợp đồng, tuy nhiên bằng việc ký kết lại Hợp đồng lao động số 00988/HĐLĐ-IN-CN có cơ sở xác định giữa bà N và Công ty TNHH I là hợp đồng xác định thời hạn. Đồng thời, các bên cũng thỏa thuận việc chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 34 Bộ luật Lao động.
[3.2] Về việc yêu cầu đóng đầy đủ Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện X từ tháng 10/2021 đến tháng 11/2021 và đóng bảo hiểm xã hội cho bà N tại Bảo hiểm xã hội huyện H từ tháng 03/2022 đến hết tháng 02/2023:
Căn cứ theo Bản ghi quá trình đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của bà Huỳnh Thị Hồng N (Mã số Bảo hiểm xã hội: 7526872632) ngày 19/3/2024 của Bảo hiểm xã hội huyện X và Công văn số 90/BHXH ngày 18/11/2024 v/v xác minh quá trình tham gia BHXX của bà Huỳnh Thị Hồng N do cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện X cung cấp, thể hiện:
“- Không đóng Bảo hiểm xã hội cho bà N từ tháng 10/2021 – 11/2021;"
Và Công văn số 686/CV-BHXH ngày 26/11/2024 của Bảo hiểm xã hội huyện H cung cấp, thể hiện:
“Đóng Bảo hiểm xã hội từ tháng 12/2021 đến hết tháng 02/2022, từ tháng 03/2022 đến 02/2023, Công ty chưa đóng (nợ) Bảo hiểm xã hội của bà N số tiền 19821.909. (trong đó tiền lãi tính tới tháng 12/2024: 3.183.909), số tháng chưa đống (nợ) 12 tháng.”
Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 21; khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động, có nội dung: “Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội” và “Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động... trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật”. Do đó, về trách nhiệm của người sử dụng lao động là phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định và hàng tháng trích từ tiền lương, tiền công của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Như vậy, từ các căn cứ trên, Công ty TNHH I đã có lỗi trong việc không thực hiện đóng bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm nên xét thấy bà N yêu cầu Công ty TNHH I phải đóng Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện X từ tháng 10/2021 đến tháng 11/2021 và đóng Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện H từ tháng 03/2022 đến hết tháng 02/2023 là có cơ sở và phù hợp quy định pháp luật nên xét chấp nhận.
Sau khi Công ty TNHH I thi hành án xong (nộp đủ các khoản bảo hiểm xã hội cho bà Phạm Thị Thanh N1) cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện X, tỉnh Đồng Nai và Bảo hiểm xã hội huyện H có trách nhiệm chi thanh toán các khoản bảo hiểm cho bà N1 theo quy định pháp luật.
[4] Về án phí lao động sơ thẩm: Do tranh chấp về tiền bảo hiểm nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí. Công ty TNHH I phải chịu tiền án phí.
[5] Ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 95; Điều 96; Điều 99; Điều 101; Điều 316; Điều 317; Điều 318; Điều 320; Điều 321 và Điều 322 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 188, khoản 1 Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 21 và khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; khoản 1 Điều 44 Luật Việc làm năm 2013;
Căn cứ vào Điều 2; Điều 6; Điều 7; Điều 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc Công ty TNHH I có trách nhiệm đóng số nợ bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện X từ tháng 10/2021 đến tháng 11/2021 và đóng sổ nợ Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện H từ tháng 03/2022 đến hết tháng 02/2023 và chốt sổ Bảo hiểm xã hội cho bà Huỳnh Thị Hồng N theo luật định;
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Huỳnh Thị Hồng N không phải chịu tiền án phí lao động sơ thẩm.
- Công ty TNHH I phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 300.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thu Phương |
Bản án số 37/2025/LĐ-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về tranh chấp về bảo hiểm xã hội
- Số bản án: 37/2025/LĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận vụ việc
