TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-ĐỒNG NAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HSST Ngày: 27/11/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Quang Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: ông Mai Văn Rạng, ông Lê Đình Cóong
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Lý Văn Hơn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13-Đồng Nai tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh, ông Hoàng Ngọc L - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 10, 20 tháng 11 và 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 13-Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/HSST ngày 10 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN T, sinh năm: 1988; tại: tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: thôn B, xã V, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là xã V, tỉnh Hưng Yên); Nơi ở hiện nay: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1967; bị cáo có vợ tên Vũ Thị D, sinh năm 1991 và có 03(ba) người con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2021. tiền án: không; tiền sự: không; Về nhân thân: Năm 2010, bị cáo có hành vi cố ý gây thương tích, ngày 11/02/2010 Công an huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ) quyết định đình chỉ vụ án đối với bị cáo. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/11/2024 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Những người làm chứng:
- Đỗ Văn D1, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Lê Thị L1, sinh năm 1972 (vắng mặt)
- Dương Mạnh T2, sinh năm 1990 (có mặt)
- Vũ Thị D, sinh năm 1991 (có mặt)
- Phan Trung H, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Phan Văn K, sinh năm 1993(có mặt)
Cùng nơi thường trú: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai.
- Trần Văn P, sinh năm 1995 (có mặt)
Nơi thường trú: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 27/11/2024, Công an xã T (nay là Công an xã T, tỉnh Đồng Nai) tuần tra trên đoạn đường ĐT759B, thuộc khu vực ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai) phát hiện Nguyễn Văn T đang điều khiển xe ô tô 04 chỗ, hiệu Toyota, loại Camry, màu xanh, biển kiểm soát: 2A-1376 (biển số nước ngoài) có dấu hiệu nghi vấn, Tổ công tác đã ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra nhưng T không chấp hành mà tăng ga xe bỏ chạy.
Tổ công tác đã tiến hành truy đuổi; khi T bỏ chạy đến đoạn đường bê tông thuộc thuộc khu vực ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai) thì T điều khiển xe vào sân nhà bà Lê Thị L1 và dừng xe tại gốc mít bên hông nhà bà L1 rồi xuống xe và mở cánh cửa sau ghế phụ rồi dùng tay kéo 02 thùng giấy và 01 bao tải màu đen xuống đất, rồi đi ra phía sau, cách xe khoảng 10m ngồi.
Tiến hành kiểm tra trong cốp sau xe ô tô phát hiện có 05 thùng giấy cùng kích thước 30cm x 53cm x 36cm, kiểm tra thùng giấy thứ nhất ký hiệu (M1), bên trong có chứa 18 khối hình hộp (pháo nổ), loại 49, khối lượng 30,55kg; thùng giấy thứ hai ký hiệu (M2) có chứa 18 khối hình hộp (pháo nổ), loại 49, khối lượng 30,75kg; thùng giấy thứ ba ký hiệu (M3) có chứa 18 khối hình hộp (pháo nổ), loại 49, khối lượng 30,3kg; thùng giấy thứ tư ký hiệu (M4), có chứa 18 khối hình hộp (pháo nổ), loại 49, khối lượng 30,9k; thùng giấy thứ năm ký hiệu (M5) có chứa 18 khối hình hộp (pháo nổ), loại 49, khối lượng 31,05kg.
Tiếp tục kiểm tra bên trong xe ô tô (xe đã bị tháo ghế, chỉ còn 01 ghế tài xế) phát hiện 02 thùng giấy và 07 bao tải màu đen. Kiểm tra bên trong thùng giấy thứ nhất ký hiệu (M6), bên trong có chứa 18 khối hình hộp (pháo nổ), loại 49, có khối lượng 30,55kg; thùng giấy thứ hai ký hiệu (M7), bên trong có chứa 18 khối hình hộp (pháo nổ), loại 49, khối lượng 30,7kg.
Kiểm tra bên trong bao tải có chứa có chứa các túi ni lông trong suốt, bên trong có các viên hình cầu (dạng quả bóng đá) có gắn sợi dây màu xanh (pháo nổ): bao 1 ký hiệu (A1) khối lượng 12,1kg; bao 2 ký hiệu (A2) có khối lượng 11,55kg; bao 3 ký hiệu (A3) có khối lượng 11,85kg; bao 4 ký hiệu (A4) khối lượng 11,4kg; bao 5 khối lượng 12,25kg; bao 6 ký hiệu (A6) khối lượng 11,55kg; bao 7 ký hiệu (A7) khối lượng 11,8kg.
Ngoài ra, phát hiện dưới đất bên phải nhìn từ sau xe (cách xe ô tô khoảng 01 mét) phát hiện 02 thùng giấy và một bao tải màu đen. Kiểm tra thùng giấy thứ nhất (ký hiệu M8), bên trong có chứa 18 khối hình hộp (pháo nổ), loại 49 khối lượng 30,5kg. Kiểm tra bên trong thùng giấy thứ hai ký hiệu (M9), bên trong có chứa 18 khối hình hộp (pháo nổ), loại 49, khối lượng 31kg. Bên trong bao tải màu đen (ký hiệu A8) có chứa 30 túi ni lông trong suốt, bên trong có các viên hình cầu (dạng quả bóng đá) có gắn sợi dây màu xanh (pháo nổ), khối lượng 13,55kg.
Tổng khối lượng là 372,35kg (pháo nổ). Cơ quan CSĐT Công an huyện B (nay là Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ) lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T, tạm giữ toàn bộ tang vật nêu trên và xe ô tô 04 chỗ, màu xanh, biển kiểm soát: 2A-1376; 01 điện thoại di động, màu tím, mẫu TA-1559; 01 mũ vải màu đen; 01 áo sơ mi dài tay, màu xám; 01 quần lửng ngắn, màu xám đen; 01 đôi dép, có quai kẹp, màu đen; 09 thùng giấy; 08 bao tải màu đen; 01 bao vô lăng xe, màu nâu trắng; 01 mẫu thu AND trên thắng tay xe ô tô; 01 mẫu thu AND trên tay cầm mở cánh cửa bên trái xe ô tô; 01 mẫu thu AND trên cần gạt số xe ô tô.
Quá trình điều tra xác định, do bị can T có quan hệ quen biết với 01 người đàn ông Campuchia tên Bô N (không rõ tên, tuổi, địa chỉ), Bô N có gửi 01 xe ô tô 04 chỗ, hiệu Toyota, loại Camry, màu xanh, biển kiểm soát: 2A-1376 (xe Campuchia) cho T giữ. Khoảng 03 giờ ngày 27/11/2024, Bô N gọi điện thoại kêu T điều khiển xe ô tô vào khu vực lô cao su biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc ấp C, xã T, huyện B (nay là ấp C, xã T, tỉnh Đồng Nai) để giao cho Bô N; T đồng ý. Trên đường đi T gọi điện hỏi thì Bô N nói vào đến nơi sẽ có người của Bô Na đứng đón trên đường và giao xe cho người đó. Khi T điều khiển xe ô tô vào đến nơi thì gặp 01 người đàn ông (chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ), T hỏi “lấy xe cho B Na hả” thì người này trả lời “ừ” và nói T lùi xe vào phía trước nhà tôn bên đường. T đứng đợi để người của Bô N đưa các bao tải và thùng giấy lên xe ô tô.
Sau khi xếp hàng xong người này nói T điều khiển xe ô tô chở hàng đi đến khu vực nghĩa địa thuộc ấp T, xã T, huyện B (cũ) sẽ có người tên Trung M nhận; T đồng ý, nhận 500.000đ tiền công từ người này và điều khiển xe đi giao hàng. Khi T điều khiển xe đi đến đoạn đường ĐT759B thuộc khu vực ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai) thì bị phát hiện nên bỏ chạy đến đoạn đường bê tông thuộc khu vực ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai, T điều khiển xe vào sân nhà bà Lê Thị L1, đi vào sát hông bên phải của nhà và dừng xe rồi mở cánh cửa sau ghế phụ, dùng tay kéo 02 thùng giấy và 01 bao tải màu đen bên trong có chứa pháo nổ xuống đất, rồi đi ra phía sau, cách xe khoảng 10m ngồi. Cùng lúc này, Tổ tuần tra truy đuổi đến bắt giữ người và vật chứng.
Cáo trạng số: 05/CT - VKS ngày 09/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13-Đồng Nai truy tố Nguyễn Văn T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã thừa nhận bị cáo biết ngay từ đầu hàng bị cáo chở thuê là pháo nổ và xác định đúng toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát, sau khi xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Vận chuyển hàng cấm, đề xuất: áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 05 – 06 năm tù. Các vấn đề khác như trong cáo trạng đã nêu.
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người làm chứng. Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện theo đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: căn cứ vào lời khai của bị cáo, của những người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, vật chứng của vụ án cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 27/11/2024, Nguyễn Văn T đã có hành vi sử dụng xe ô tô hiệu Toyota, loại Camry, màu xanh, biển kiểm soát: 2A-1376 vận chuyển trái phép pháo nổ có tổng trọng lượng là 372,35 kilôgam từ khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc ấp C, xã T, tỉnh Đồng Nai đến khu vực nghĩa địa thuộc ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai, khi đang vận chuyển trên đường thì bị lực lượng Công an phát hiện, T điều khiển xe bỏ chạy vào sân vườn nhà bà Lê Thị L1 thuộc ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai thì bị bắt quả tang.
Kết luận giám định số 7266 ngày 02/12/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Trên các mẫu vật gửi giám định đều có ADN người, phân tích được kết quả như sau: Phân tích được kiểu gen của Nguyễn Văn T từ dấu vết trên bao da vô lăng, dấu vết ghi thu trên thắng tay và tay cầm mở cánh cửa ghế lái gửi giám định”.
Kết luận giám định số 1329 ngày 02/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B (cũ) kết luận: “162 khối hình hộp chữ nhật ký hiệu là M1 bên trong 09 thùng giấy carton được niêm phong gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu, khối lượng là 276,30kg; các vật hình cầu tròn bằng nhựa dạng quả bóng đá bên trong 235 túi nylon ký hiệu M2 được niêm phong gửi giám định là pháo nổ, khi đốt phát ra tiếng nổ lớn, khối lượng là 96,05kg”. Tổng khối lượng là 372,35kg (pháo nổ). Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội Vận chuyển hàng cấm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13-Đồng Nai đã truy tố.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi trên của bị cáo đã vi phạm vào việc quản lý của Nhà nước đối với pháo nổ là hàng hóa cấm lưu hành, cấm sử dụng. Bị cáo nhận biết rõ pháo nổ là mặt hàng Nhà nước cấm sử dụng nhưng vẫn vận chuyển. Bị cáo vi phạm với lỗi cố ý, thể hiện sự thiếu ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi đối với bị cáo nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, từ trước đến nay bị cáo chưa vi phạm pháp luật, đây là lần đầu bị cáo phạm tội, là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đối với người đàn ông tên Bô N và người đàn ông mà T khai là người làm cho Bô N, quá trình điều tra Cơ quan CSĐT chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với các số điện thoại 0972.540.xxx, 0332237366, 0353848318, 0389667737, 0869339179, 0378426507, bị cáo T đã liên lạc trong ngày 26/11/2024 và 27/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã yêu cầu Tập đoàn C cung cấp thông tin các thuê bao trên; nên tách ra xử lý sau.
[6] Về vật chứng:
Tổng trọng lượng pháo nổ là 372,35kg, sau khi sử dụng để giám định còn lại 341,1kg. Ngày 24/01/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra trích mẫu lại 3,9kg để phục vụ truy tố xét xử, số pháo còn lại 337,2kg đã tiến hành tiêu hủy là đúng quy định của pháp luật.
Đối với số pháo còn lại 3,9kg (02 hộp, 01 bịch) để phục vụ truy tố, xét xử là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe ô tô 04 chỗ, hiệu Toyota, loại Camry, màu xanh, biển kiểm soát: 2A-1376, quá trình điều tra xác định xe không có số khung, không có thông tin trên hệ thống đăng ký quản lý phương tiện của Cục C1 – Bộ C2, là phương tiện bị can sử dụng để phạm tội. Tài sản còn giá trị sử dụng, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động, màu tím, mẫu TA-1559, quá trình điều tra xác định điện thoại, bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện tội phạm, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 mũ vải màu đen, có ghi chữ “Burberry London; 01 áo sơ mi dài tay, màu xám, trên áo có in các đường sọc ngang màu trắng, có in chữ “Puma”; 01 quần lửng ngắn, màu xám đen; 01 đôi dép, có quai kẹp, màu đen của bị cáo T sử dụng khi phạm tội, tài sản không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 09 thùng giấy, có kích thước (30 x 53 x 36) cm; 08 bao tải màu đen, kích thước (60 x 112) cm, được dùng để đựng pháo nổ là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 bao vô lăng xe, màu nâu trắng, đường kính 40cm không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
01 mẫu thu ADN trên thắng tay xe ô tô; 01 mẫu thu ADN trên tay cầm mở cánh cửa bên trái xe ô tô; 01 mẫu thu ADN trên cần gạt số xe ô tô, đã sử dụng cho việc giám định.
Đối với số tiền 500.000₫ bị cáo được trả công vận chuyển cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.
Án phí: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn T 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2024.
- Vật chứng; Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 xe ô tô 04 chỗ, hiệu Toyota, loại Camry, màu xanh, biển kiểm soát: 2A-1376, không có số khung, không có thông tin trên hệ thống đăng ký quản lý phương tiện của Cục C1 – Bộ C2; 01 điện thoại di động, màu tím, mẫu TA-1559.
Truy thu của bị cáo 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) nộp Ngân sách Nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy số pháo còn lại 3,9kg (02 hộp, 01 bịch); 01 mũ vải màu đen, có ghi chữ “Burberry London; 01 áo sơ mi dài tay, màu xám, trên áo có in các đường sọc ngang màu trắng, có in chữ “Puma”; 01 quần lửng ngắn, màu xám đen; 01 đôi dép, có quai kẹp, màu đen; 09 thùng giấy, có kích thước (30 x 53 x 36) cm; 08 bao tải màu đen, kích thước (60 x 112) cm; 01 bao vô lăng xe, màu nâu trắng, đường kính 40cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 8991 ngày ngày 17/10/2025 giữa Phòng thi hành án dân sự dân sự khu vực 13-Đồng Nai và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ).
- Án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Quang Lâm |
Bản án số 37/2025/HSST ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-ĐỒNG NAI về vận chuyển hàng cấm (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 37/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T vận chuyển pháo.
