TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 37/2025/HSST Ngày: 25 – 6 – 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Toàn
2. Ông Nguyễn Tiến Thị
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoành, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2005, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/XXHSST – HS, ngày 24/6/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên bị cáo: Trần Tiến A;giới tính: Nam; tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 22/11/2004, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; chức vụ, đảng phái: Quần chúng; con ông: Trần Văn M, sinh năm: 1966; con bà: Nguyễn Thị Len . sinh năm: 1967; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo Trần Tiến A bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/5/2025 tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Bị hại:
Ông Nguyễn Tiến Q – sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Buôn bán (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Thiều Quốc H – sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Buôn bán (Vắng mặt)
Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
Anh Nguyễn Văn V – sinh ngày 19 tháng 01 năm 2008; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
Ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp:
Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do là người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Văn V (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 08/04/2025, Trần Tiến A đến nhà anh Nguyễn Văn V, sinh năm 2008, trú tại thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh chơi, sau đó ngủ lại cùng với V. Đến sáng ngày 09/04/2025 Anh tỉnh ngủ dậy và đi bộ về nhà, trên đường về vào khoảng 4 giờ 00 phút cùng ngày khi đi qua nhà anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1965, ở thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thấy cửa cổng đóng nhưng không khóa và cửa chính của nhà khép lại, điện trong nhà không sáng, nghĩ không có người ở trong nhà, nên Trần Tiến A nảy sinh ý định vào nhà anh Q trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Trần Tiến A đi vào mở cánh cửa chính phòng khách thấy không có ai ở nhà nên bật điện trong nhà sáng lên rồi đi vào phòng ngủ anh Q dùng tay lật chiếc gối lên phát hiện phía dưới gối có một chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S10 màu trắng của anh Nguyễn Tiến Q, A lấy bỏ vào túi quần rồi tiếp tục lật chiếc nệm trên giường lên phát hiện phía dưới có một chiếc ví da màu xám, Anh lấy bỏ vào túi quần rồi đi bộ theo bờ biển về nhà mình. Trên đường về A lấy chiếc ví da trộm cắp của anh Q ra kiểm tra phát hiện bên trong ví có 8.800.000 đồng tiền Ngân hàng N đang lưu hành, Anh lấy tiền cất dấu vào túi quần rồi vứt chiếc ví da trộm cắp được tại bãi biển T thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh và đi về nhà. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 09/04/2025, Trần Tiến A xin đi nhờ xe người dân đưa điện thoại trộm cắp được của anh Nguyễn Tiến Q đến cửa hàng Đ, ở thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh bán cho anh Thiều Quốc H, sinh năm 1993 làm chủ cửa hàng với giá 2.500.000 đồng. Khi mua điện thoại anh H không biết tài sản do trộm cắp mà có. Số tiền trộm được và bán điện thoại, Trần Tiến A đưa cho mẹ là Nguyễn Thị L 2.000.000 đồng và cho anh Nguyễn Văn V mượn 500.000 đồng, số còn lại Anh chi tiêu xài cá nhân hết. Ngày 14/4/2025 anh Nguyễn Tiến Q làm đơn trình báo gửi Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh về việc bị mất trộm tài sản. Tiếp đó ngày 15/4/2025, Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh triệu tập Trần Tiến A lên làm việc, tại Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh Trần Tiến A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo kết luận định giá tài sản số 16/BB-KL ngày 23/4/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện K, tỉnh Hà Tĩnh kết luận:
- - Một chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10 màu trắng, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 4.100.000 đồng.
- - Một chiếc ví da màu xám, bên ngoài có dòng chữ “Studio F” đã qua sử dụng, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 15.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản Trần Tiến A chiếm đoạt của anh Nguyễn Tiến Q được xác định là 12.915.000 đồng.
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã thu giữ, xử lý vật chứng gồm: Một ví da màu xám kích thước 19cmx11cm bên ngoài có dòng chữ “Studio F”, đã qua sử dụng; Một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S10, màu trắng, số EMEI 355375103829591, đã qua sử dụng. Nay đã trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Tiến Q.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Tại bản Cáo trạng số 37/CT- VKSKA ngày 12 tháng 6 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Trần Tiến A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến A phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Về hình phạt: Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Tiến A từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Tiến A về cho UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh trực tiếp giám sát và giáo dục. Gia đình Trần Tiến A có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Trần Tiến A.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Về án phí: Theo quy định của pháp luật
Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 09/4/2025, tại nhà ở anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1965, ở thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sỡ hữu, Trần Tiến A đã lén lút lấy trộm của anh Nguyễn Tiến Q với tổng trị giá tài sản 12.915.000 đồng, bao gồm: tiền Ngân hàng N đang lưu hàng 8.800.000 đồng; một ví da màu xám trị giá 15.000 đồng và một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10 màu trắng trị giá 4.100.000 đồng đưa đến bán cho anh T1 Quốc H, sinh năm 1993, ở thôn Q, xã K, huyện K làm chủ cửa hàng với giá 2.500.000 đồng lấy chi tiêu cá nhân. Khi mua điện thoại anh H không biết tài sản do trộm cắp mà có.
Hành vi của Trần Tiến A đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm Cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này chỉ một mình Trần Tiến A thực hiện, không có đồng phạm.
[3]. Tích chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước, làm mất trật tự, trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Bị cáo Trần Tiến A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo quy định tại điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành chủ trương chính sách của pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú và có nơi cư trú rõ ràng. Do đó cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử cho bị cáo được hưởng án treo, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy đình tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Đối với các vấn đề liên quan:
Đối với bà Nguyễn Thị L được Trần Tiến A cho 2.000.000đ, Nguyễn Văn V được Trần Tiến A cho mượn 500.000đ, số tiền nay do Anh trộm cắp mà có. Quá trình điều tra xác định bà L và anh V không biết tài sản do Anh phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với anh Thiều Quang H1 là người mua điện thoại do Trần Tiến A trộm cắp mà có. Quá trình điều tra xác định khi mua tài sản, anh H1 không biết là tài sản do Anh phạm tội mà có, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[6]. Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã thu giữ, xử lý vật chứng gồm: Một ví da màu xám kích thước 19cmx11cm bên ngoài có dòng chữ “Studio F”, đã qua sử dụng; Một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S10, màu trắng, số EMEI 355375103829591, đã qua sử dụng. Nay đã trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Tiến Q, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Trần Tiến A đã bồi thường cho anh Nguyễn Tiến Q số tiền chiếm đoạt 8.800.000 đồng và sau khi nhận lại tài sản bị mất trộm chiếc điện thoại và chiếc ví da, anh Nguyễn Tiến Q không yêu cầu về bồi thường dân sự. Đồng thời bị cáo Trần Tiến A đã bồi thường cho anh Thiều Quốc H 2.500.000 đồng, nay anh H không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến A phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Về hình phạt: Xử phạt Trần Tiến A 08 ( T2) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 ( Mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Tiến A về cho UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh trực tiếp giám sát và giáo dục. Gia đình Trần Tiến A có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Trần Tiến A.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
4. Về án phí: Xử buộc Trần Tiến A phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Hoàng |
Bản án số 37/2025/HSST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 37/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Tiến A phạm tội “Trộm cắp tài sản”
