|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 37/2025/HSST Ngày 25/3/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng
Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà, Ông Nguyễn Hữu Trọng
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Tô Mạnh Hà - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/TLST-HS ngày 25/2/2025 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Lê Đình H, sinh năm: 1997. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, C Mỹ, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Lê Đình T, con bà Đặng Thị L. Tiền án, tiền sự: Không. Bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H.
Người bị hại:
- Nguyễn Văn T1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện C, Hà Nội. có mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vũ Hữu D, sinh năm 1984. Địa chỉ: số D ngõ B đường Q, phường Q, quận H, Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 28/11/2024, Lê Đình H cùng anh Nguyễn Văn T1 đi ăn uống với nhau. Đến khoảng gần 23 giờ cùng ngày, anh T1 và H ăn uống xong, H điều khiển xe máy Honda SH BKS: 29X1-692.06 của anh T1 chở anh T1 về nhà anh T1 ngủ. Anh T1 để chìa khóa xe máy trên bàn và cả 2 cùng ngủ trên giường tại nhà anh T1. Khi anh T1 ngủ say, H lấy điện thoại di động của anh T1 đăng nhập vào tài khoản Facebook của H để nhắn tin cho bạn là Nguyễn Hoàng A (Sinh năm: 1994; Trú tại: Phòng A, CT1, Chung cư V bỏng, T, T, Hà Nội) với nội dung: “Anh ngủ chưa”, Hoàng A trả lời: “Anh chưa”, H nhắn tin: “Em ra anh chơi nhé, anh hỏi giúp em cắm cái xe”, Hoàng A nhắn tin: “Xe gì”, H nhắn tin: “Xe SH150”, Hoàng A nhắn tin: “Để anh hỏi giúp”, H nhắn tin: “Giúp em đi, như thế nào bảo em”, Hoàng A nhắn tin: “Thế cắm bao nhiêu hả em”, H trả lời: “Được bao nhiêu thì được”, Hoàng A trả lời: “Ra đón anh đi”. H xóa tin nhắn với Hoàng A và để trả lại điện thoại di động cho anh T1. Lợi dụng lúc anh T1 đang ngủ, H tự ý lấy chìa khóa xe máy Honda SH BKS: 29X1-692.06 anh T1 để ở trên bàn trong phòng ngủ để ra mở khóa xe máy đang dựng ở sân rồi điều khiển xe máy đi đến đường Y, xã T, T đón Hoàng A. Sau đó, Hoàng A liên hệ với anh Vũ Minh T2 (Sinh năm: 1991; Trú tại: Số A, tổ A, P. P, H, Hà Nội) để nhờ T2 tìm người cầm cố chiếc xe máy. Tiếp tục H điều khiển xe máy chở Hoàng A đến bãi trông giữ xe ở sân siêu thị C thuộc phường M, Quận H gặp anh T2. H nói: “Anh cắm giúp em cái xe”, T2 trả lời: “Để anh hỏi” và T2 gọi điện thoại Vũ Hữu D để nhờ cầm cố xe máy. Sau đó, T2 nói lại cho H và Hoàng A biết về việc D đồng ý cầm cố xe, hẹn gặp ở khu vực vườn hoa H để giao xe và nhận tiền do D đang ngồi cùng bạn là T3 ăn tối tại đây. Khi đến vườn hoa H, H xuống xe đứng đợi. Do H còn vay tiền của T3, nên H không dám đến gặp D, H đã bảo T2 và Hoàng A là khi cấm cố thì nói là xe của Hoàng A. Sau đó T2 điều khiển xe máy Honda SH BKS: 29X1-692.06 chở Hoàng A đến gặp D để cầm cố, T2 nói với D chiếc xe máy là của Hoàng A và hỏi vay D số tiền 20.000.000 đồng thì D bảo không đủ tiền còn bao nhiêu thì D chuyển khoản, Thông đồng Ý và giao xe cùng chìa khoá xe máy BKS: 29X1-692.06 cho D rồi cùng Hoàng A đi bộ quay lại chỗ H đang đứng đợi. Khoảng 10 phút sau, T2 nhận được số tiền chuyển khoản từ D là 13.500.000 đồng, T2 nói lại với H về việc cắm xe được 13.500.000 đồng thì H đồng ý. Có tiền H rủ Hoàng A, T2 cùng đi ăn tối và bảo T2 trừ tiền ăn, tiền thuê xe taxi đi đường vào số tiền cầm cố xe, số tiền còn lại thì chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của Hoàng A. T2 đã chuyển trả lại số tiền là 12.000.000 đồng vào tài khoản Hoàng A. Sau đó, Hoàng A đổi số tiền trong tài khoản thành tiền mặt và đưa cho H số tiền 12.000.000 đồng. Sau khi có tiền, H rủ Hoàng A và 2 người bạn của Hoàng A tình cờ gặp ở khu vực cổng chào X đi hát Karaoke tại khu vực X, H.
Đến khoảng 03 giờ ngày 29/11/2024, H và mọi người nghỉ hát và ra về, H thanh toán số tiền hát là 9.000.000 đồng, rồi H đi thuê nhà nghỉ ngủ, đến sáng hôm sau H đi chơi game ở quán internet tại Y, T, T. Đến khoảng 13 giờ ngày 29/11/2024, H nhắn tin cho anh T1 qua mạng xã hội Facebook biết là H đã lấy xe máy Honda SH BKS: 29X1-692.06 của anh T1 đem đi cầm cố lấy tiền chơi game. Chờ không thấy H trả lại xe máy. Đến ngày 02/12/2024, Nguyễn Văn T1 đến Công an xã Hợp đồng để trình báo sự việc. Biết tin T1 trình báo Công an, ngày 03/12/2024, Lê Đình H đến Công an huyện C xin đầu thú và khai nhận H là người trộm cắp xe mô tô BKS: 29X1-692.06 của anh T1 đem đi cầm cố.
Cơ quan điều tra tiến hành điều tra làm rõ những người liên quan gồm có Nguyễn Hoàng A, Vũ Minh T2 đã được Lê Đình H nhờ đưa đi cầm cố xe mô tô cho Vũ Hữu D. Sau khi biết là xe mô tô trộm cắp, anh Vũ Hữu D đã giao lại chiếc xe mô tô BKS: 29X1-692.06 cho Cơ quan điều tra.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i; số máy: JF73E0071915; số khung: 7309GY071863; BKS 29X1 – 692.06, đăng ký lần đầu ngày 15/5/2018, đã qua sử dụng.
- Tại bản kết luận định giá tài sản số 194/KL-HĐĐG ngày 06/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i; số máy: JF73E0071915; số khung: 7309GY071863; BKS 29X1 – 692.06, đăng ký lần đầu ngày 15/5/2018, đã qua sử dụng. Tại thời điểm tháng 11/2024 có giá trị là: 53.000.000 đồng (Năm mươi ba triệu đồng)”.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Qúa trình điều tra xác định chiếc xe mô tô Honda SH125i; số máy: JF73E0071915; số khung: 7309GY071863; BKS 29X1 – 692.06 là của anh Nguyễn Văn T1 (bị hại), xe có đầy đủ giấy tờ hợp pháp. Ngày 06/01/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe cho anh T1 quản lý. Anh T1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm gì khác.
Đối với Vũ Hữu D không biết chiếc xe mô tô là tài sản trộm cắp, đã giữ chiếc xe mô tô BKS: 29X1-692.06 để làm tin khi đồng ý cho Hoàng A vay số tiền 13.500.000 đồng và chuyển tiền cho T2.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số 27/CT – VKS ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận toàn bộ diễn biến thực hiện tội phạm như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, đã nhận lại tài sản người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- Về sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Xét trong quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai, người liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293, 294 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.
- Về nội dung:
- Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà, thấy phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với vật chứng thu được, lời khai của người làm chứng phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều không khiếu nại về các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 28/11/2024, tại nhà ở của anh Nguyễn Văn T1 ở Thôn Đ, xã H, C, thành phố Hà Nội. Lợi dụng lúc anh Nguyễn Văn T1 ngủ say, Lê Đình H đã lấy chìa khóa xe máy nhãn hiệu Honda SH125i, BKS 29X1 – 692.06 trị giá là 53.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn T1 đi cầm cố lấy tiền chơi game và tiêu sài cá nhân. H nhờ Nguyễn Hoàng A, Vũ Minh T2 đem cầm cố chiếc xe máy cho Vũ Hữu D và nhận được số tiền 13.500.000 đồng.
Hành vi lén lút trộm cắp tài sản như nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an, an ninh tại địa phương, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng, mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, tại phiên tòa người bị hại đề nghị HĐXX giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo
- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên không xem xét. Đối với số tiền 13.500.000 đồng anh Vũ Hữu D chuyển cho Vũ Minh T2 để cầm cố xe, bị cáo thừa nhận số tiền trên do bị cáo sử dụng và ăn tiêu cá nhân. Trước khi mở phiên tòa anh D có đơn không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Lê Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự
- Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Xử phạt: Lê Đình H 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2024
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt Dũng |
Bản án số 37/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 37/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo có tội
