|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/HSST Ngày 25 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Du
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Như Hạnh
Ông Lê Công Quyền
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang
Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Lê Văn B - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 17/01/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lường Văn D; giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không ;
Sinh năm 1986 tại huyện M, tỉnh Hòa Bình.
Nơi cư trú: Xóm T, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Lường Văn T, sinh năm 1965. Họ tên mẹ: Lò Thị N, sinh năm 1970. Gia đình có 3 anh chị em, bị can là con thứ nhất. Vợ: Lường Thị V (đã ly hôn). Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2016. Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 15/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 29/11/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn K, giới tính: Nam; Sinh năm 1992 tại huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Nguyễn Văn H, (Đã chết). Họ tên mẹ: Bùi Thị L, sinh năm 1959. Gia đình có 3 anh chị em; bị cáo là con thứ ba. Vợ: Hà Thị T1, sinh năm 1995. Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2020. Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 14/6/2023, bị Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Tàng trữ trái phép vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ”. Bị cáo chưa chấp hành việc nộp phạt.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
3. Họ và tên: Bùi Văn D1, giới tính: Nam. Sinh năm: 1993 tại huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn T, xã Á, huyện B, Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Bùi Văn V1, sinh năm 1964. Họ tên mẹ: Lê Thị N1, sinh năm 1961. Gia đình có 2 anh chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Trương Thị O (đã ly hôn). Có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
4. Họ và tên: Nguyễn Thế A, giới tính: Nam. Sinh năm: 1990 tại huyện C, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi cư trú: Khu phố S, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa;
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Công an (bị tước danh hiệu Công an nhân dân ngày 26/10/2023). Họ tên bố: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1966. Họ tên mẹ: Đào Thị H1, sinh năm 1970; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Trương Diệu L1, sinh năm 1995. Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 đến ngày 19/01/2024 được tại ngoại và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo:
- - Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn D:
- Bà Lê Thu H2 – Trợ Giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nước Tỉnh T. Có đơn vắng mặt.
- Luật sư Trần Văn H3 – Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư Tỉnh T. Có mặt
- Địa chỉ: Số B, phố Đ, Khu đô thị N, P. B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
- - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K: Luật sư Mai Văn B1 – Luật sư Văn phòng L4 – thuộc Đoàn Luật sư Tỉnh T.
- Địa chỉ: SN G đường L, p. B, Tp T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
- - Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn D1: Luật sư Nguyễn Gia T3 – Luật sư Văn phòng L4 – thuộc Đoàn Luật sư Tỉnh T.
- Địa chỉ: SN G đường L, p. B, Tp T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
* Người làm chứng: Trương Phương N2 – sinh năm 2000.
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 20/10/2023, tại Quốc lộ A thuộc địa phận bản Đỏ, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, tổ công tác phòng PC 04 Công an tỉnh T phát hiện Nguyễn Văn K, Bùi Văn D1 và Trương Phương N2 đi trên một xe mô tô không gắn biển kiểm soát có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong túi áo của Nguyễn Văn K đang mặc có 02 túi nilon màu xanh, bên trong đựng các viên nén màu hồng và màu xanh nghi là ma túy. Tại chỗ, K khai nhận đây là ma túy hồng phiến K mua của một người đàn ông ở tỉnh Hòa Bình với giá 8.000.000đ (tám triệu đồng) về để sử dụng và bán kiếm lời.
Tại bản kết luận giám định số 3891/KL-KTHS ngày 25/10/2023 của phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận:
Các viên nén màu hồng và màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn K có tổng khối lượng là 34,042gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Kết quả điều tra mở rộng điều tra vụ án, các bị can khai nhận:
Khoảng ngày 11/10/2023, Nguyễn Văn K gọi điện cho Lường Văn D2 hỏi D2 có hồng phiến không thì bán cho K một ít, D2 nói để Dằm vào trong bản Mông hỏi, có gì Dằm sẽ thông báo lại. Sau đó, D2 đi vào khu vực giáp ranh giữa xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình và xã L, huyện V, tỉnh Sơn La hỏi một người phụ nữ dân tộc Mông, bán hàng thổ cẩm dọc đường có bán hồng phiến không, thì người phụ nữ này nói có và báo giá 2.800.000đ/túi 200 viên. Sau khi tìm được chỗ mua hồng phiến, D2 gọi điện cho K báo giá 3.500.000đ/túi 200 viên. Kỳ hẹn khi nào mua thì sẽ gọi lại, D2 bảo K phải đặt tiền trước. Do không dùng tài khoản ngân hàng nên D2 gọi điện cho Tạ Xuân Đ, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình (là người làm dịch vụ chuyển tiền qua tài khoản) để hỏi số tài khoản của Đ. Đông gửi số tài khoản 9888201100, mở tại ngân hàng V3 của mình cho D2, D2 gửi số tài khoản này cho K để K đặt trước tiền mua ma túy.
Sáng ngày 13/10/2023, Nguyễn Thế A gọi điện hỏi K còn ma túy hồng phiến không, mục đích để Thế A mua về sử dụng. K bảo không có nên Thế A hỏi lại K có chỗ nào bán hồng phiến thì mua hộ cho Thế A. K nói có chỗ mua được bên M, Hòa Bình, nhưng chưa mua lần nào, với đường xa ngại đi, Thế A bảo K dẫn đi mua ma túy, Thế A sẽ lấy ô tô chở K đi. Thế A nghiện ma túy hồng phiến, nên mỗi khi có nhu cầu sử dụng hồng phiến, Thế A sẽ gọi điện hỏi K có còn hồng phiến không thì đưa cho Thế A mấy viên để sử dụng. Nếu K có sẵn hồng phiến thì sẽ đưa cho Thế A, còn nếu không còn thì Thế A sẽ nhờ K đi mua hộ, sau đó K sẽ đưa cho Thế A khoảng từ 3 đến 5 viên và thường sẽ không lấy tiền. Thỉnh thoảng Thế A cũng đưa tiền cho K, nói là cho tiền uống nước, K sẽ lấy số tiền đó, góp vào để đi mua hồng phiến hộ cho Thế A.
Tiếp đó, K gọi điện cho D2 đặt vấn đề hỏi mua 02 túi hồng phiến. D2 bảo K chuyển tiền trước để D2 đi mua và hẹn K sẽ giao hàng tại huyện M. tỉnh Hòa Bình. K đã chuyển cho D2 1.000.000đ (một triệu đồng) qua tài khoản của Tạ Xuân Đ rồi hẹn chiều sang lấy sẽ đưa tiền mặt số còn lại. Dằm đi đến quán tạp hoá của Đ rút 1.000.000đ Kỳ vừa chuyển và bỏ thêm 2.000.000đ (hai triệu đồng), rồi đi vào khu vực giáp ranh giữa xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình và xã L, huyện V, tỉnh Sơn La để gặp người phụ nữ dân tộc Mông mà D2 đã hỏi trước đó để mua 3.000.000₫ ma túy hồng phiến. Người phụ nữ này cầm tiền, rồi đi về hướng bản Tà Dê, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La, khoảng 15 phút thì quay lại và đưa cho D2 02 túi hồng phiến. Sau khi mua được ma tuý, D2 đem về cất giấu ở gốc cột điện gần nhà.
Sau khi giao dịch với D2, K gọi điện cho Thế A thông báo là đã liên hệ mua được ma túy. Thế A hẹn trưa sẽ đón, chở K đi mua hồng phiến. Sau khi thống nhất với Thế A, K gọi điện rủ Bùi Văn D1 đi cùng sang huyện M mua hồng phiến cùng K và Thế A, D1 đồng ý rồi đi đến nhà K. Khoảng 11 giờ ngày 13/10/2023, Thế A điều khiển xe ô tô đến đón K và D1 cùng đi mua ma túy. Khoảng 15 giờ cùng ngày, K gọi lại cho D2 nói là đi đến ngã Ba M, D2 bảo K cứ đi vào thêm khoảng 40km, khi nào gần đến nơi thì gọi D2 ra đón. Khoảng 30 phút sau, K gọi lại nói là gần đến Cun P, D2 bảo K đứng đợi. D2 điều khiển xe mô tô ra, cách nhà D2 khoảng 10km, thì thấy xe ô tô của K đang dừng ven đường. Thấy D2 đến, K xuống xe rồi D2 chở K quay lại chỗ gốc cột điện, nơi giấu ma tuý, lấy 02 túi hồng phiến đưa cho K. Tuy nhiên, do thấy số lượng hồng phiến bên trong mỗi túi không đủ 200 viên, nên K nói sẽ thanh toán trước cho D2 bằng tiền của 1 túi hồng phiến (tức 3.500.000đ), về nhà K kiểm tra lại nếu đủ, K sẽ chuyển khoản, thanh toán cho D2 sau. D2 đồng ý, bảo K đưa cho D2 2.600.000đ (gồm 2.500.000đ là tiền ma tuý và 100.000đ là tiền phí dịch vụ rút tiền). Sau khi nhận tiền, D2 chở K ra chỗ Thế A, D1 đang đợi. Sau khi mua được ma túy, Thế A điều khiển xe ô tô chở K và D1 về đến khu vực cầu H, thuộc xã B, huyện B thì dừng lại cho K và D1 xuống xe. K lấy ra 20 viên hồng phiến, đưa cho Thế A vì Thế Anh đã nhờ K đi mua hộ. Số ma túy còn lại, K đem về nhà, đếm lại thì thấy bên trong mỗi túi thiếu khoảng 80 viên hồng phiến. K đã thông báo lại cho D2 rằng K sẽ không thanh toán hết số tiền còn lại. Số ma túy này, K cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời.
Khoảng 18 giờ ngày 14/10/2023, Nguyễn Văn M, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã Đ, huyện B gọi điện hỏi mua của K 05 viên hồng phiến với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), K đưa ma tuý cho D1 đi giao cho M. Số ma tuý còn lại K đã sử dụng hết.
Khoảng 8 giờ sáng này 17/10/2023, K gọi điện rủ Thế A đi sang huyện M để mua hồng phiến của D2. Thế A bảo K cứ liên hệ trước cho chắc chắn, nếu được thì chiều Thế A xin nghỉ làm để đi. K đồng ý, rồi gọi điện cho D2 hỏi mua 02 túi hồng phiến, D2 đồng ý và cũng báo giá 3.500.000đ/túi, bảo K gửi tiền trước vào tài khoản ngân hàng của Tạ Xuân Đ. K chuyển trước cho D2 5.100.000₫ (năm triệu một trăm nghìn đồng). Dằm ra quán tạp hóa của Tạ Xuân Đ rút tiền rồi đến gặp một người phụ nữ dân tộc Mông để mua ma túy về bán cho K.
Sau khi liên hệ mua được hồng phiến, K gọi điện thông báo cho Thế A, Bùi Văn D1 đi mua ma túy. K gọi rủ Trương Phương N2, sinh năm 2000, trú tại khu phố C, thị trấn C, huyện B đến để sang huyện M đi tìm đá phong thuỷ, gốc cây cho K. Khoảng 12 giờ trưa, Thế A điều khiển xe ô tô đến đón K, D1, N2 đi M. Khoảng 14 giờ, khi đi đến ngã ba M, K gọi điện lại cho D2 hỏi địa điểm giao hàng, D2 bảo cứ theo hướng đi C, gặp ở đâu thì giao hàng chỗ đó. Thế A điều khiển xe đi được khoảng 40km thì gặp D2. Thấy xe của K, D2 quay xe lại rồi đến bên cửa ghế phụ, K hạ cửa kính xuống, D2 đưa qua cửa kính xe cho K 02 túi hồng phiến, K đưa cho D2 số tiền 1.900.000₫ (một triệu chín trăm nghìn đồng) còn lại. Sau khi mua được ma túy, Thế A chở K, N2, D1 về đến khu vực cầu H. Tại đây, K lấy 29 viên hồng phiến đưa cho anh Thế A, mục đích để trả công cho Thế A. Số ma túy còn lại, K đem về nhà kiểm tra thì thấy bên trong mỗi túi chỉ có 160 viên. K liên hệ lại với D2 nói là hàng thiếu. D2 bảo có gì chuyến sau, D2 sẽ bù. Kỳ cất giấu số ma tuý trên tại nhà để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán.
Chiều ngày 18/10/2023, Nguyễn Văn M gọi điện cho K hỏi mua 05 viên hồng phiến, K đồng ý bán cho M với giá 500.000đ, D1 là người đi giao ma túy cho M. Số ma tuý còn lại, K tự sử dụng cho bản thân, thỉnh thoảng K cho D1 và N2 1 đến 2 viên hồng phiến để sử dụng, còn lại 7 viên, K cất giấu trong người. Đối với Nguyễn Thế A, sau khi được K trả công bằng 29 viên hồng phiến, Thế A đem về nhà cất giấu và một mình sử dụng hết.
Ngày 19/10/2023, K tiếp tục gọi điện cho D2, hỏi mua 02 túi hồng phiến, do hai chuyến trước đều thiếu hàng nên lần này K yêu cầu mỗi túi phải đủ 200 viên. D2 đồng ý và báo giá 3.700.000đ/1 túi và cũng bảo K chuyển trước tiền vào số tài khoản của Tạ Xuân Đ. K đã chuyển vào tài khoản này cho cho D2 4.100.000₫ (bốn triệu một trăm nghìn đồng). Sau đó, D2 ra quán tạp hóa của Tạ Xuân Đ lấy 4.100.000₫ do K chuyển, rồi đi vào khu vực giáp ranh giữa xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình và xã L, huyện V, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy để bán cho K. Lúc này, D2 gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 50 tuổi (D2 không biết họ tên, địa chỉ cụ thể), đang bán hàng thổ cẩm ở dọc đường (khu vực vắng người 2 bên đường là nương ngô của người dân) và hỏi mua của người này 02 túi hồng phiến, người phụ nữ này đồng ý báo giá 2 túi hồng phiến là 5.400.000đ (năm triệu bốn trăm nghìn đồng), bảo D2 đưa tiền trước để đi mua. Dằm đưa người phụ nữ 5.400.000đ, người phụ nữ này cầm tiền, bảo D2 đợi rồi đi về hướng bản Tà Dê, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La. Khoảng 30 phút sau, người phụ nữ này quay ra, đưa cho D2 02 túi hồng phiến. Sau khi mua được 02 túi hồng phiến, D2 gọi điện lại cho K, nói đã có hàng. Kỳ hẹn ngày mai sẽ sang lấy nên D2 đem 02 túi hồng phiến về nhà cất giấu.
Khoảng 19 giờ ngày 19/10/2023, K gọi điện bảo Bùi Văn D1 đến nhà K và nói với D1 là đã đặt tiền mua của D2 02 túi hồng phiến, ngày mai đi cùng K sang chỗ D2 để mua. Khoảng 10 giờ, ngày 20/10/2023, K gọi điện bảo D1 đến để đi, trên đường đi thì qua đón Trương Phương N2 đi cùng, cả K và D1 đều không nói cho N2 biết việc đi M, Hòa Bình là để mua ma tuý. Một lúc sau, D1, N2 đến rồi ăn cơm trưa tại nhà K. Khoảng 11 giờ cùng ngày, K gọi điện rủ Nguyễn Thế A đi M mua ma túy nhưng Thế A bận trực nên không đi được. Đồng thời, Thế A cũng hỏi K còn hồng phiến không thì bán cho Thế A mấy viên. K nói còn 7 viên, Thế A bảo khi nào đi thì ném 7 viên hồng phiến trước cửa nhà cho Thế A, tiền Thế A sẽ thanh toán sau. K đồng ý rồi lấy 07 viên thuốc lắc còn lại bỏ vào bao thuốc lá Thăng L2 đưa cho D1, dặn D1 lúc nào đi qua thì ném vào nhà cho Thế A. Sau đó, K vào nhà lấy xe máy Wave RS màu đỏ đen, chưa gắn biển kiểm soát để D1 điều khiển chở K và N2 sang M. Khi đi đến trước cổng nhà Thế A, D1 ném 07 viên hồng phiến xuống đất trước cửa nhà rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô chở K, N2 đi theo quốc lộ A, qua huyện Q để sang huyện M, tỉnh Hòa Bình. Khoảng 14 giờ cùng ngày, khi K, D1, N2 đi đến khu vực ngã ba huyện M thì dừng lại, K gọi điện cho D2 nói là đang trên đường sang lấy ma tuý, đồng thời bảo D2 đem ma tuý ra gần Q giao cho K, K không đi vào sâu trong xã C như hai lần trước. Dằm nói giao gần Q thì giá sẽ cao hơn. Kỳ hỏi lại là bao nhiêu, thì D2 nói sẽ giao ở xã S, huyện M thì giá 4.000.000đ/túi, K đồng ý; D2 bảo K đi đến cổng chào xã S đợi. Sau đó, D2 đem theo 02 túi hồng phiến, bắt xe buýt đi từ nhà ra cổng chào xã S rồi giấu 02 túi hồng phiến ở gốc keo ven đường, cách cổng chào xã S khoảng 20m. Khoảng 15 giờ cùng ngày, K, D1, N2 đi đến cổng chào thấy D2 đang đứng đợi ven đường. D2 gọi K lại chỗ gốc keo (nơi Dằm giấu ma tuý) lấy 02 túi hồng phiến đưa cho K. Do 2 lần trước K đem về kiểm tra thì thấy đều thiếu hàng, nên sau khi nhận 02 túi hồng phiến của D2, K yêu cầu D2 phải bù số ma tuý còn thiếu của 2 lần trước, D2 đồng ý rồi trừ cho K 1.000.000đ. K đưa thêm cho D2 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền mặt, còn nợ lại 1.500.000₫ (một triệu năm trăm nghìn đồng) K hẹn khi về đến nhà K sẽ chuyển khoản cho D2. Sau đó, K giấu 02 túi hồng phiến vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi lên xe cùng D1, N2 đi về nhà. Khi đi về đến trạm kiểm lâm, thuộc xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa thì Nguyễn Văn K bị lực lượng Công an tỉnh T phát hiện bắt quả tang, thu giữ 02 túi hồng phiến mà K vừa mua của D2.
Ngày 23/10/2023, Nguyễn Thế A, Bùi Văn D1 đầu thú về hành vi mua bán trái phép chất ma túy cùng với Nguyễn Văn K. Ngày 25/10/2023 Lường Văn D đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.
* Về xử lý vật chứng:
- - Đối với xe ô tô, nhãn hiệu Huyndai, loại Elantra, màu đen: Qua điều tra xác định, chiếc xe ô tô tên là của ông Phạm Ngọc K1 đứng tên chủ sở hữu. Chiều ngày 05/10/2023, Thế A mượn chiếc xe ô tô trên của ông K1 để làm phương tiện đi khám bệnh tại Hà Nội. Trưa ngày 13/10/2023 và ngày 17/10/2023, Nguyễn Thế A đã dùng chiếc xe trên chở Nguyễn Văn K đi mua ma túy. Đến chiều ngày 18/10/2023, Nguyễn Thế A đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho ông K1. Mục đích ông K1 cho Thế A mượn xe để Thế A đi khám bệnh, còn trong quá trình mượn, Thế A sử dụng vào mục đích gì, đi đâu, làm gì ông K1 không biết. Kết quả tra cứu xe vật chứng, xác định chiếc ô tô trên không nằm trong hệ thống dữ liệu xe vật chứng của các vụ án khác. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng đối với chiếc xe ô tô trên bằng hình thức trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Phạm Ngọc K1.
- - Đối với điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu xám, đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình, thu giữ của Trương Phương N2, quá trình điều tra xác định, N2 không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can do đó, Cơ quan điều tra đã trả chiếc điện thoại trên cho Trương Phương N2.
- - Đối với các điện thoại thu giữ của các bị can, số ma túy còn lại sau giám định, tiền, xe mô tô và điện thoại thu giữ của các bị can được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá để để chờ xử lý.
Các tình tiết khác của vụ án:
Đối với người phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 50 tuổi đã bán ma túy cho Lường Văn D tại khu vực giáp ranh giữa xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình và xã L, huyện V, tỉnh Sơn La, D không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, không nhớ đặc điểm nhận dạng của người phụ nữ này, nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác minh, làm rõ về người phụ nữ này để xử lý trong vụ án.
Đối với Trương Phương N2: Quá trình điều tra xác định, hàng ngày, N2 và D1 thường được K thuê đi lên các huyện miền núi của tỉnh Thanh Hoá và tỉnh Hoà Bình để tìm, khai thác, thu mua gỗ lũa cho K. Trưa ngày 17/10/2023, khi N2 và D1 đang ở nhà K thì thấy Nguyễn Thế A đi ô tô đến nhà K, rồi K bảo N2 và D1 lên xe của Thế A đi cùng K sang huyện M, tỉnh Hòa Bình. N2 nghĩ cũng như mọi lần đi tìm, khai thác đá phong thuỷ, gốc cây cho K. Khi đến nơi, xe dừng lại thì thấy có một người đàn ông đi xe mô tô đến bên ghế phụ, chỗ K ngồi, N2 thấy K hạ cửa kính xuống, nói chuyện với người đàn ông này, nhưng do N2 ngồi ở hàng ghế sau nên không nhìn rõ K và người đàn ông này mua bán trao đổi gì với nhau. Trưa ngày 20/10/2023, D1 điều khiển chở N2 và K sang huyện M, trên đường đi, K, D1, N2 có dừng lại một số địa điểm dọc đường để nhặt đá phong thuỷ. Khi đi đến huyện M, N thấy K có gặp người tên D, rồi N2 nhìn thấy D đưa cho K 01 gói nilon màu đen. N2 không biết K và D trao đổi mua bán gì với nhau. Đến khi bị lực lượng Công an phát hiện N2 mới biết K sang huyện M để mua ma tuý. K và D1 đều không nói cho N2 biết việc đến huyện M để mua ma túy. Sau khi mua ma tuý về, K cũng không chỉ đạo N2 tham gia vào việc bán ma tuý cho con nghiện. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý đối với Trương Phương N2 trong vụ án này.
Đối với Nguyễn Văn M: Đã có hành vi mua ma túy của Nguyễn Văn K 02 lần vào chiều ngày 14/10/2023 và chiều ngày 18/10/2023. Số ma túy này, M đã sử dụng hết, Cơ quan điều tra không thu giữ được ma túy. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn M về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Đối với Nguyễn Thế A: Đã có hành vi nhờ Nguyễn Văn K dẫn đi mua ma túy của Lường Văn D để sử dụng vào ngày 13/10/2023, số ma túy này Thế A đã sử dụng hết, Thế A không biết việc K có mua thêm ma túy do K xuống xe lấy ma túy từ Dằm ở chỗ khác nên không có cơ sở để xử lý hình sự đối với lần này.
Đối với Tạ Xuân Đ: Là chủ số tài khoản ngân hàng mà Lường Văn D2 yêu cầu Nguyễn Văn K gửi số tiền mua ma túy cho D2. Quá trình điều tra xác định, Tạ Xuân Đ là người làm dịch vụ chuyển, rút tiền tại xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Sau khi nhận được tiền vào tài khoản, Đ sẽ đưa tiền mặt cho khách. Phí chuyển khoản, Đ sẽ thu của khách 20.000đ/1.000.000đ tiền giao dịch chuyển khoản. Hàng ngày có rất nhiều khách sử dụng dịch vụ chuyển tiền qua tài khoản của Đ, nên Đ không nhớ được khách là ai, không biết mục đích khách nhờ số tài khoản của Đ chuyển tiền để làm gì. Đ không quen biết với ai tên là Lường Văn D ở C, Hòa Bình và Nguyễn Văn K ở B, Thanh Hóa. Đông hoàn toàn không biết việc D nhờ số tài khoản ngân hàng của Đ để cho K chuyển tiền mua ma tuý của D. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý đối với Tạ Xuân Đ trong vụ án này.
* Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS-P1 ngày 16/01/2025 của VKSND tỉnh Thanh Hóa:
Truy tố các bị cáo Lường Văn D, Nguyễn Văn K, Bùi Văn D1 tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ Luật hình sự;
Truy tố bị cáo Nguyễn Thế A tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ Luật hình sự;
* Tại phiên tòa:
- - Các Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- - Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định số ma túy trên.
- - Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đối với các bị cáo, và đề nghị HĐXX áp dụng:
Về điều luật áp dụng: Điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; Điểm s khoản 1, Điều 51(Lường Văn D, Bùi Văn D1 hưởng thêm khoản 2 Điều 51 của BLHS); điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, điều 35, điều 47 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lường Văn D, Nguyễn Văn K, Bùi Văn D1
Về hình phạt:
Các bị cáo Lường Văn D và Nguyễn Văn K xử phạt mỗi bị cáo từ 16 năm đến 16 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
Bị cáo Bùi Văn D1 từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
Phạt bổ sung bị cáo D, K mỗi bị cáo từ: 10 đến 20 triệu đồng. Phạt bổ sung bị cáo D1 từ 5 triệu đến 10 triệu đồng.
Áp dụng : khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thế A. Xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án, được trừ thời gian bắt tạm giữ, tạm giam từ 23/10/2023 đến 19/01/2024. Không phạt bổ sung đối với bị cáo
V2 vật chứng, đề nghị: Áp dụng Điều 106; Điều 136 BLTTHS; Điều 47 BLHS.
Các vật chứng là các chất ma túy nên tịch thu và tiêu hủy. Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tranh luận của luật sư bào chữa và các bị cáo:
Các luật sư của bị cáo D, bị cáo K và bị cáo D1 đều nhất trí với tội danh, khung khoản của điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với các bị cáo. Tuy nhiên, đề nhgị hội đồng xét xử xét đến điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo, sự thành khẩn ăn năm hối cải của các bị cáo, các bị cáo sống ở vùng núi có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, bị cáo D, bị cáo D1 là người dân tộc thiểu số có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, vì vậy đề nghị HĐXX xem xét mức án cho các bị cáo thấp hơn mức đề nghị của Đại diện viện kiểm sát và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Thế A: nhất trí với tội danh, khung khoản của điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo, kính mong HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về làm công dân tốt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa, trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo và bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các tang vật chứng thu được trong vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 18 giờ ngày 20/10/2023, tại Quốc lộ A thuộc địa phận bản Đỏ, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, tổ công tác phòng PC 04 Công an tỉnh T phát hiện Nguyễn Văn K, Bùi Văn D1 và Trương Phương N2 đi trên một xe mô tô không gắn biển kiểm soát có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong túi áo của Nguyễn Văn K đang mặc có 02 túi nilon màu xanh, bên trong đựng các viên nén màu hồng và màu xanh nghi là ma túy. Số ma túy này là của K, D1 vừa mua được của Lường Văn D với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời với giá 8.000.000đ (tám triệu đồng) về để sử dụng và bán kiếm lời.
Tại bản kết luận giám định số 3891/KL-KTHS ngày 25/10/2023 của phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận: Các viên nén màu hồng và màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn K có tổng khối lượng là: 34,042gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Kết quả điều tra mở rộng điều tra vụ án, các bị cáo khai nhận : Trước đó, vào các ngày 13/10/2023 và 17/10/2023, K, D1 được Nguyễn Thế A chở đi bằng xe ô tô mà Thế A thuê của ông K1 để mua ma tuý của D mỗi lần mua là 02 túi ma túy hồng phiến số ma túy này K và D1 đã bán và sử dụng hết, cơ quan Điều tra không thu giữ được nên không có cơ sở để xác định khối lượng.
Việc mua bán ma tuý các ngày 13/10/2023, 17/10/2023 và ngày 20/10/2023 là do K trực tiếp liên hệ với D về giá mua, số lượng mua, phương thức thanh toán, do không dùng tài khoản ngân hàng nên D gọi điện cho Tạ Xuân Đ, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình (là người làm dịch vụ chuyển tiền qua tài khoản) để hỏi số tài khoản của Đ. Đông gửi số tài khoản 9888201100, mở tại ngân hàng V3 của mình cho D, D gửi số tài khoản này cho K để K chuyển đặt trước tiền mua ma túy. Sáng ngày 13/10/2023 K đã chuyển cho D 1.000.000đ, khi D giao 02 gói ma tuý thì K đưa trực tiếp cho Dằm 2.600.000đ; ngày 17/10/2023 K chuyển trước cho D 5.100.000đ (năm triệu một trăm nghìn đồng), khi nhận ma tuý K đưa cho D thêm 1.900.000 đồng. Ngày 19/10/2023 K chuyển trước cho D 4.100.000₫ ( bốn triệu một trăm nghìn đồng), khi nhận ma tuý K đưa thêm cho Dằm 1.400.000 đồng. Tổng ba lần mua bán ma tuý trên: K đã đưa cho D là 16.100.000 đồng.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Tại phiên Toà đã làm rõ ngày 13/10/2023 Thế A hỏi K để mua ma tuý để sử dụng cá nhân, vì K và Thế A đều là người nghiện ma tuý, K không có nên nhờ K biết nơi nào bán thì dẫn đi mua thì K đồng ý, Thế A không biết việc K có mua ma túy của D về để bán, vì trên đường đi thì K chỉ nói về việc xem gỗ và đá phong thuỷ không nói gì liên quan đến việc mua ma tuý, bị cáo K có gọi điện cho bị cáo D thì chỉ hỏi về địa chỉ nơi D đón K. Khi đến Cun P thì K xuống xe và được D chở bằng xe máy đi xem gốc cây trên rẫy nhà D trước xem K có mua không, rồi sau đó đi lấy ma túy ở chỗ khác cách xa vị trí các bị cáo dừng xe. Việc trao đổi mua bán ma tuý thì chỉ K và D biết, khi nhận ma tuý cũng chỉ có K và D. Sau khi nhận ma tuý từ D thì K cất giữ bên trong túi áo khoác khi lên xe cũng không nói gì về việc mua bán ma tuý mà chỉ nói về việc gặp D xem gốc cây nhưng không mua được, khi về đến đến khu vực cầu H, thị trấn B, K xuống xe và đưa cho Thế A 20 viên hồng phiến, Thế A không biết và không hỏi K lấy số ma tuý này ở đâu. Sau khi Toà án trả hồ sơ điều tra bổ sung làm rõ về 20 viên ma tuý này, Cơ quan Điều tra đã tiến hành điều tra lấy lời khai của các bị cáo K, Thế A, D, D1 làm rõ số ma tuý này là Thế A nhờ K mua giúp, không phải là K trả công cho Thế A, Tại phiên toà K khai nhận ngày hôm sau (14/10/2023) Thế A đã trả tiền cho K là 1.000.000 đồng là tiền mua giúp 20 viên ma tuý. Toàn bộ số ma tuý các bị cáo K, Thế A đã sử dụng hết không thu giữ được, do vậy không đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với Thế A đồng phạm với K ngày 13/10/2023.
Ngày 17/10/2023 bị cáo K trực tiếp gọi điện cho Thế A rủ đi M mua matuý, Thế A đồng ý và thuê xe ô tô chở K, D1 đi M gặp D để mua ma tuý. Như vậy, Thế A đã biết trước K nhờ chở đi mua ma tuý, khi đến điểm hẹn Cun pheo thì D mang gói ma tuý đến và K ngồi ghế trên bên phụ hạ của kính để lấy ma tuý. Khi về đến về đến khu vực cầu H, K mở gói ma tuý mà D đưa lấy 29 viên hồng phiến đưa cho anh Thế A, mục đích để trả công cho Thế A. Do vậy, có đủ căn cứ bị cáo Nguyễn Thế A đồng phạm với K về tội Mua bán trái phép chất ma tuý với vai trò giúp sức.
Các bị cáo nhận thức việc “Mua bán trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật. Ý thức chủ quan và động cơ, mục đích của các bị cáo là mua bán ma tuý để bán kiếm lời nên thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Vì vậy, hành vi của bị cáo D, K, D1 đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm p khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, hành vi của bị cáo Nguyễn Thế A đã vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Tính chất vụ án: Vụ án xảy ra là đặc biệt nghiêm trọng, bởi lẽ ma tuý là hiểm hoạ của cả nhân loại và của mỗi một gia đình, nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu trực tiếp đến trật tự, an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho nhân dân. Do đó cần phải xử lý nghiêm, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để các bị cáo có đủ thời gian cải tạo thành người lương thiện, làm bài học giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Lường Văn D đã bán cho K 34,042g ( gồm 33,657g viên nén màu hồng, 0,385g viên nén màu xanh) là ma túy loại Methamphetamine vào ngày 20/10/2023. Trước đó, vào các ngày 13/10/2023 và 17/10/2023 D cũng đã bán ma túy cho K nên Lường Văn D và Nguyễn Văn K có vai trò ngang nhau và cao nhất trong vụ án. Bùi Văn D1 đồng phạm với Nguyễn Văn K với vai trò giúp sức về hành vi mua 34,042 gam ma túy loại Methamphetamine vào ngày 20/10/2023 của D về bán kiếm lời. D1 còn giúp K nhiều lần bán ma túy cho Nguyễn Thế A, Nguyễn Văn M và cùng với K mua ma túy của D vào ngày 17/10/2023 nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án.
Ngày 17/10/2023, sau khi được K rủ đi mua ma tuý, Thế A thuê xe oto chở K, D1 đi mua ma túy, Thế A biết K mua 02 gói ma túy để sử dụng và bán kiếm lời, nhưng vẫn thuê xe ô tô chở K và D1 đi mua ma túy và được K trả công bằng 29 viên ma túy loại Methamphetamine, nên Thế A đồng phạm với K trong hành vi mua bán trái phép chất ma túy ngày 17/10/2023 và giữ vai trò thấp nhất trong vụ án.
Đây là vụ án "Mua bán trái phép chất ma túy" có tính chất đặc biệt nghiêm trọng và nghiêm trọng đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4]. Về Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo chưa có tiền án, bị cáo D đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo đã chấp hành xong; bị cáo K đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Tàng trữ trái phép vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ”. Bị cáo chưa chấp hành việc nộp phạt.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo. Các bị cáo Lường Văn D, Bùi Văn D1, Nguyễn Thế A đầu thú. Bị cáo Bùi Văn D1 có ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bị cáo Nguyễn Thế A có ông nội, bà nội được Nhà nước tặng thượng Huân chương kháng chiến hạng Ba và hạng Nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do đó, các bị cáo Lường Văn D, Bùi Văn D1, Nguyễn Thế A đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn K được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự,
Các bị cáo Lường Văn D, Nguyễn Văn K và Bùi Văn D1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thế A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Hình phạt bổ sung: Bị cáo D, K Mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích thu lợi bất chính nên áp dụng hình phạt bổ sung một khoản tiền để sung quỹ Nhà Nước. Đối với bị cáo D là người dân tộc thiểu số, nhận thức còn hạn chế về pháp luật, gia đình là hộ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo D1 đồng phạm với vai trò giúp sức có hoàn cảnh khó khăn do vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo. Áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo K.
[5] Các tình tiết khác của vụ án:
- - Đối với hành vi của người phụ nữ dân tộc Mông, Trương Phương N2, Nguyễn Văn M và Tạ Xuân Đ Cơ quan điều tra đã điều tra thu thập chứng cứ và không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này là đúng quy định của pháp luật.
- - Xe ô tô mà Thế A mượn của ông Phạm Ngọc K1 là đi khám chữa bệnh, ông K1 không biết việc K dùng xe để chở K đi mua ma tuý, do vậy cơ quan Điều tra trả lại cho ông K1 là chủ hợp pháp của chiếc xem là phù hợp.
[6] Biện pháp tư pháp và xử lý Vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
- - Số tiền mà Nguyễn Văn K chuyển cho Lường Văn D để mua matuý tổng cộng 03 lần là 16.100.000 đồng. D đã dùng số tiền này mua 03 lần matuy của người phụ nữ người Mông (ngày 13/10/2023 D mua 3.000.000 đồng; ngày 17/10/2023 D mua 5.100.000 đồng, ngày 19/10/2023 D mua 5.400.000đ), về bán lại cho K tổng cộng là: 13.500.000 đồng, như vậy Dằm thu lợi bất chính do phạm tội mà có là: 2.600.000 đồng. Số tiền này cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Nguyễn Văn K nhận của Thế A 1.000.000 đồng, tiền mua giúp ma tuý, 02 lần đưa ma tuý cho D1 đi bán cho Nguyễn Văn M mỗi lần 500.000 đồng, tổng cộng là 2.000.000 đồng, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Các vật chứng thu được đang nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận số 11/2025/TV-CTHADS ngày 30/10/2024 được xử lý như sau:
Cơ quan Điều tra thu giữ 34,042g ma tuý ( gồm 33,657g viên nén màu hồng, 0,385g viên nén màu xanh). Sau khi giám định số ma tuý còn lại là 32,025g viên nén màu hồng, 0,291g viên nén màu xanh được Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T đóng gói niêm phong sau giám định, là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy,
Đối với xe máy, điện thoại di động các bị cáo K, Thế A sử dụng trong việc phạm tội còn giá trị sử dụng cần tịch thu nộp ngân sách. Điện thoại di động các bị cáo D, D1 sử dụng trong việc phạm tội cũ nát, hỏng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Số tiền 596.000 đồng thu giữ của bị cáo K, hiện đang lưu giữ tại tài khoản 3949.0.1054196.00000 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Thanh hoá theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 31/10/2024 được trừ vào số tiền bị cáo bị tịch thu sung quỹ.
[7]. Án phí: Mỗi Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Các Bị cáo Lường Văn D, Nguyễn Văn K; Bùi Văn D1; Nguyễn Thế A phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
[2] Điều luật và hình phạt:
2.1. Áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 251; Điểm s khoản 1, Điều 51 (Lường Văn D, Bùi Văn D1 hưởng thêm khoản 2 Điều 51 của BLHS); điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đối với các bị cáo Lường Văn D, Nguyễn Văn K; Bùi Văn D1. Xử phạt:
Bị cáo Lường Văn D : 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2023.
Bị cáo Nguyễn Văn K : 16 (Mười sáu ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2023.
Bị cáo Bùi Văn D1: 15 (Mười lăm ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2023.
2.2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đối với bị cáo Nguyễn Thế A.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A : 36 ( Ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 đến 19/01/2024.
2.3. Hình phạt bổ sung:
Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K. Phạt bổ sung bị cáo K: 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước. Không áp dụng hình Phạt bổ sung đối với các bị cáo Lường Văn D, Bùi Văn D1, Nguyễn Thế A.
[3] Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Tịch thu của bị cáo Lường văn D số tiền: 2.600.000 đồng ( Hai triệu sáu trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
- - Tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn K: 2.000.000 đồng ( Hai triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
- Số tiền 596.000 đồng thu giữ của bị cáo K, hiện đang lưu giữ tại tài khoản số: 3949.0.1054196.00000 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Thanh hoá theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 31/10/2024 được trừ vào số tiền bị cáo K bị tịch thu sung quỹ.
- Các vật chứng thu được đang nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận số 11/2025/TV-CTHADS ngày 30/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T và Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hoá, được xử lý như sau:
- - Tịch thu và tiêu hủy gồm: Số lượng ma túy còn lại sau giám định ( 32,025g viên nén màu hồng; 0,291g viên nén màu xanh) được đóng gói niêm phong mô tả tại mục (1); 01(một) Điện thoại di động Iphone 6S, màu xám, điện thoại bị hư hỏng mô tả tại mục (4); 01(một) Điện thoại di động N3 dạng bàn phím, màu đen mô tả tại mục (6) của Biên bản giao nhận vật chứng nêu trên .
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước các vật chứng sau:
- - 01(một) Xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, màu xanh đen, không gắn BKS. Xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong;
- - 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, màn hình cảm ứng. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong;
- - 01(một) Điện thoại di động Iphone, màu vàng. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong;
- Các vật chứng được mô tả hình dáng kích thước tại Biên bản giao nhận vật chứng nêu trên.
[4] Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án : Các Bị cáo Lường Văn D, Nguyễn Văn K; Bùi Văn D1; Nguyễn Thế A mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Các Bị cáo Lường Văn D, Nguyễn Văn K; Bùi Văn D1; Nguyễn Thế A được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Trường Du |
Bản án số 37/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 37/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
