|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày 30 – 5 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng - Nguyên là CT HCCB huyện;
2. Ông Nguyễn Chí Vương - Nguyên là giáo viên
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Khải Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 21/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 16/5/2025 đối với bị cáo:
Đỗ Đức T, sinh ngày 13/5/2007, tại tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc.
Nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Cha: Đỗ Bắc B, sinh năm: 1982, Mẹ: Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1986; Bị cáo có 01 chị gái, 01 em trai; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 03/01/2025, có hành vi Vận chuyển hàng cấm thì bị bắt quả tang, ngày 06/01/2025 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1986 (Mẹ ruột bị cáo); Nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Đức T: Bà Hoàng Thị H – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 03/01/2025, Đỗ Đức T, sinh ngày 13/5/2007 một mình điều khiển xe mô tô BSKS 93C1-344.67 đến quán nước ven đường đối diện chợ T2, huyện H uống nước. Tại đây, có một người thanh niên tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê T chở pháo đến quán nước B1 ở S, xã T với tiền công 500.000đ. Do T thấy tiền công cao lại cùng đường về nhà nên T đồng ý. Sau đó, L đưa T 05 bệ pháo được đựng trong 01 bao xác rắn màu trắng. T để bao đựng pháo lên phía trước xe mô tô BSKS 93C1-344.67 rồi điều khiển xe đi về hướng xã T để giao cho một người tên L1 (không rõ nhân thân, lai lịch). Khi đi đến đoạn đường nhựa liên ấp thuộc ấp S, xã T thì T bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang, thu giữ bao tải có chứa 05 hộp pháo nêu.
Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Đỗ Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được.
Ngày 05/01/2025, Phòng K Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 28/KL-KTHS, kết luận: 05 khối hình hộp được niêm phong gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu, khối lượng 8,50kg.
* Về vật chứng của vụ án:
- + 01 thùng giấy Carton được niêm phong, bên trong có 04 hộp pháo hoa nổ có tổng trọng lượng 6,80kg là mẫu vật còn lại sau giám định;
- + 01 bao xác rắn màu trắng có kích thước (90x57)cm có chữ “đường tinh luyện cao cấp”;
- + 01 xe mô tô BSKS 93C1-344.67, loại xe wave, nhãn hiệu Honda, số máy JA39E2151849, số khung RLHJA3923MY034738.
- Xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 thùng giấy Carton được niêm phong, bên trong có 04 hộp pháo hoa nổ có tổng trọng lượng 6,80kg là mẫu vật còn lại sau giám định. Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ điểm c, khoản 3, Điều 106 BLTTHS, CQCSĐT Công an huyện H đã ra Quyết định tiêu hủy theo quy định.
- + Đối với 01 xe mô tô BSKS 93C1-344.67, loại xe wave, nhãn hiệu Honda, số máy JA39E2151849, số khung RLHJA3923MY034738. Đỗ Đức T sử dụng làm phương tiện vận chuyển pháo nổ. Quá trình điều tra xác định xe môtô trên là tài sản hợp pháp của ông Đỗ Bắc B (bố ruột của T). Xe mô tô trên ông B cho T mượn sử dụng, khi T dùng xe làm phương tiện vận chuyển pháo nổ, ông B không
biết. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông Đỗ Bắc B theo quy định.
* Trách nhiệm dân sự: Không xảy ra.
Cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 19/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố Bị cáo Đỗ Đức T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Chương XII (gồm các Điều: 90, 91, 92, Điều 98) và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đỗ Đức T mức hình phạt từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của án treo từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Tranh luận: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo không tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố; tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Chương XII quy định về người chưa thành niên phạm tội của Bộ luật hình sự để áp dụng mức hình phạt cho phù hợp với hành vi của bị cáo. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức về pháp luật chưa đầy đủ; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình khó khăn và bị cáo chưa được thu lợi từ hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa Bị cáo Đỗ Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên ngày 03/01/2025 Đỗ Đức T đã có hành vi vận chuyển 05 hộp pháo nổ có trọng lượng 8,5kg để lấy 500.000đ tiền công, trên đường vận chuyển để giao hàng thì bị bắt quả tang.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, Đỗ Đức T, sinh ngày 13/5/2007 là người chưa đủ 18 tuổi, tuy nhiên thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước.
Đối với người đàn ông tên L đã thuê T vận chuyển pháo nổ và người đàn ông tên L1: Quá trình xác minh thu thập tài liệu không xác định được nhân thân, lai lịch. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Đức T phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, Biên bản kiểm tra hiện trường, Biên bản niêm phong đồ vật và vật chứng thu giữ. Hành vi này của Bị cáo đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” nên Cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 19/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo Đỗ Đức T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
“Điều 191 Tội vận chuyển hàng cấm:
1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
c) Pháo nổ từ 06 kilogam đến dưới 40 kilogam;
...”
[4] Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình được pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân từ tiền công vận chuyển hàng cấm nên Bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi vận chuyển pháo hoa nổ nêu trên là hàng hóa thuộc danh mục cấm lưu hành trên thị trường Việt Nam do bị cáo Đỗ Đức T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu hành, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; Bị cáo có nhân thân tốt; Bị cáo vận chuyển pháo hoa nổ để lấy tiền công nhưng chưa nhận được thì bị bắt quả tang; gia đình Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cần giảm một phần hình phạt cho Bị cáo.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự để bị cáo tự rèn luyện, cải tạo bản thân dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tính răn đe, giáo dục Bị cáo và phòng ngừa chung, cũng thể hiện tính nhân đạo, nhân văn của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội.
Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổn nên cần áp dụng Chương XII của Bộ luật hình sự để áp dụng mức hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
[6] Xử lý vật chứng:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên đề nghị như nội dung bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 19 tháng 3 năm 2025 là phù hợp nên chấp nhận.
Việc xử lý vật chứng trong quá trình điều tra, truy tố là đúng quy định pháp luật.
[7] Án phí: Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Đức T phải chịu theo quy định của pháp luật.
[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các Bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” và
đề nghị mức án đối với Bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật, tình tiết vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như trên để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh: Tuyên bố Bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
2. Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều: 90, 91, 92, 98 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đỗ Đức T mức án 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách của án treo là 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2025).
Giao bị cáo Đỗ Đức T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục Bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Trong thời gian thử thách, nếu Bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (Hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc Bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc Bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
3. Xử lý vật chứng: Các vật chứng đã được Cơ quan điều tra Công an huyện H xử lý xong nên không tiếp tục xử lý.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đỗ Đức T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của Bị cáo, người bào chữa cho Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Học |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (vận chuyển hàng cấm)
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vận chuyển hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: a
