|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày: 28 - 10 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hùng Phương.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.
- Bà Dương Thị Vui.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Én – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST- HS ngày 02 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST -HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B - Sinh năm: 1984 tại tỉnh Ninh Bình; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố số A, xã H, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn, đảng: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12. Họ và tên cha: Nguyễn Viết B1, sinh năm 1959. Họ và tên mẹ: Ngô Thị M, sinh năm 1958. Hiện đang sinh sống tại Tổ dân phố số A, xã H, tỉnh Ninh Bình. Gia đình có 03 người, bị can là thứ nhất. Họ và tên vợ: Phan Thị T, sinh năm 1983, hiện đang lao động tự do tại Tổ dân phố số A, xã H, tỉnh Ninh Bình. Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Văn B bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2025 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại phân trại H - Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N; có mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn Đ - Sinh năm: 1973; vắng mặt.
- Anh Phạm Hồng P - Sinh năm: 1970; vắng mặt.
- Chị Phạm Thị T1 - Sinh năm: 1983; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ tháng 8 năm 2024, Nguyễn Văn B lái xe cho nhà xe Đ1 do anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1972 trú tại Tổ dân phố số 3, (thị trấn C), xã H, tỉnh Ninh Bình làm chủ. Giữa anh P1 và B có thỏa thuận miệng một tháng Bang lái 05 chuyến tuyến H (cũ) đến Bến xe A (Thành phố Hồ Chí Minh), tiền công mỗi chuyến là 2.800.000 đồng, thanh toán bằng tiền mặt ngay sau mỗi chuyến và B phải cam kết chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật khi vào làm việc cho nhà xe. Do có nhu cầu sử dụng pháo hoa nổ trong dịp lễ, tết nên từ tháng 2 năm 2025, B lái xe chở khách từ bến xe A về H, khi đến địa phận tỉnh Quảng Trị (khoảng từ 1 giờ đến 2 giờ sáng) dừng xe để đi vệ sinh và mua nước tại các quán ven đường thì B dò hỏi mua của những người không quen biết được 09 giàn pháo hoa nổ, loại 49 ống, do nước ngoài sản xuất với giá trung bình 600.000 đồng/1 giàn rồi mang về nhà cất giấu tại ngăn tủ đựng quần áo của gia đình.
Khoảng 02 giờ ngày 28/8/2025, khi điều khiển xe ô tô chở khách từ Thành phố Hồ Chí Minh về qua địa phận Đ, tỉnh Quảng Trị, B dừng xe tại một quán nước ven đường để đi vệ sinh và mua nước uống. Trong quá trình ngồi uống nước tại quán, B gặp một người đàn ông không quen biết, khoảng ngoài 40 tuổi, nói giọng miền T nên hỏi có biết chỗ nào bán pháo không thì người đàn ông hỏi B muốn mua bao nhiêu, B trả lời muốn mua một giàn 49 (tức là pháo hoa nổ loại giàn 49 ống), người đàn ông này nói giá 600.000 đồng/giàn, nếu đồng ý thì sẽ đi lấy giúp, B nhất trí. Người đàn ông trên đi đâu đó khoảng 05 phút sau thì quay lại đưa cho B 01 giàn pháo hoa nổ, loại 49 ống, có chữ nước ngoài. Bang nhận pháo và trả 600.000 đồng cho người này. Sau khi mua được giàn pháo, B cho vào túi nilong màu đen rồi mang lên xe cất giấu tại vị trí chân ghế lái chỗ B ngồi. Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, sau khi trả xong khách, B lái xe ô tô về đỗ tại bến thuộc xã H, tỉnh Ninh Bình rồi lấy giàn pháo trên cất giấu vào cốp xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRUS, màu đen đỏ, biển kiểm soát 18L1 - 241.00 đã để sẵn tại bến, rồi một mình điều khiển xe đi về nhà. Đến 12 giờ 45 phút ngày 28/8/2025, khi B điều khiển xe mô tô về đến trục đường thuộc Tổ dân phố số H, xã H, tỉnh Ninh Bình thì bị lực lượng Công an xã H kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong cốp xe mô tô của Bang 01 giàn giáo hoa nổ, loại 49 ống, do nước ngoài sản xuất. Công an xã H đã đưa B cùng tang vật, phương tiện về trụ sở Công an xã để làm việc.
Quá trình làm việc, nhận thức được hành vi phạm tội nên Nguyễn Văn B xin đầu thú và tự giác giao nộp thêm 09 giàn pháo hoa nổ, loại 49 ống, do nước ngoài sản xuất, đang được B cất giấu tại chỗ ở Tổ dân phố số A, xã H, tỉnh Ninh Bình, sau đó được niêm phong ký hiệu A.
Về nguồn gốc số pháo này, Nguyễn Văn B khai nhận: Do thời gian đã lâu, B chỉ nhớ mua khoảng 3-5 lần, không liên tục và không cố định về thời gian địa điểm, lần ít nhất mua 01 giàn, lần nhiều nhất mua 03 giàn. Mỗi lần mua ở một quán nước khác nhau và những người khác nhau. Tùy thời điểm chuyến nào có tiền và có nhu cầu, khi dừng xe tại bất kỳ quán nước nào, B gạ hỏi những người ở đó xem có ai bán pháo hoa nổ thì mua, trả tiền mặt cho người bán rồi cất giấu trên xe trong suốt hành trình chở và trả khách. Khi đỗ xe về bến, Bang mang số pháo hoa nổ mua được về cất giấu tại chỗ ở gia đình.
Tại Bản kết luận giám định số 1172/KL-KTHS ngày 04/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A là pháo hoa nổ (loại pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 16,940 kg.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như tội danh và điều luật đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 07 (Bảy) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo hoa nổ hoàn trả mẫu vật sau giám định (ký hiệu A) của Phòng K Công an tỉnh N. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người làm chứng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình đã truy tố bị cáo ra trước phiên toà hôm nay. Như vậy đã đủ cơ sở xác định: Hồi 12 giờ 45 phút ngày 28/8/2025, Nguyễn Văn B điều khiển xe mô tô biển số 18L1 - 241.00 khi đến khu vực Tổ dân phố số H, xã H, tỉnh Ninh Bình thì bị Công an xã H, tỉnh Ninh Bình kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong cốp xe 01 giàn pháo hoa nổ, loại 49 ống, do nước ngoài sản xuất. Sau đó, B tự giác giao nộp thêm 9 giàn pháo (loại 49 ống) cất giấu tại nhà ở Tổ dân phố số A, xã H, tỉnh Ninh Bình. Mười giàn pháo hoa nổ, do nước ngoài sản xuất có tổng khối lượng 16,940 kg, B khai nhận cất giấu nhằm mục đích để đốt vào dịp lễ, tết trong năm 2025. Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn B đã phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước đối với những loại hàng hoá mà pháp luật cấm. Xâm phạm tới trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá của dân tộc nên việc đưa bị cáo ra xét xử, lên án xử lý nghiêm là cần thiết góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn kỷ cương tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Văn B là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án bị cáo Nguyễn Văn B không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tôi bị cáo Nguyễn Văn B đã đầu thú tự giao nộp số pháo đã cất dấu và khai nhận hành vi phạm tội của mình; mặt khác hoàn cảnh của bị cáo khó khăn đã được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo Nguyễn Văn B được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tập trung cải tạo đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên toà cho thấy bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với toàn bộ số pháo hoa nổ hoàn trả mẫu vật sau giám định của Phòng K Công an tỉnh N gồm: 05 (năm) giàn pháo nổ (loại pháo hoa nổ) cùng loại có cùng kích thước (17x17x9,5)cm, bên ngoài bọc nhiều giấy màu có chữ SKY 49 shots (đã trích lại giám định 02 quả trong mỗi giàn); 03 (ba) giàn pháo nổ có cùng KT (17x17x9,5)cm, bên ngoài bọc nhiều giấy màu có chữ GD4049D (đã trích lại giám định 02 quả trong mỗi giàn); 01 (một) giàn pháo nổ có KT (16,5x16,5x9,5)cm, bên ngoài bọc nhiều giấy màu có chữ C0845 (đã trích lại giám định 02 quả); 01 (một) giàn pháo nổ có KT (16,5x16,5x9,5)cm, bên ngoài bọc nhiều giấy màu có chữ KS4-9AB (đã trích lại giám định 02 quả). Toàn bộ số pháo trên được đựng trong 01 (một) thùng bìa cát tông KT (38x37,5x32) cm, được niêm phong dán kín, có chữ ký của các bên liên quan. Hiện đang được bảo quản tại Công an xã H, tỉnh Ninh Bình cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 18L1-241.00 là tài sản hợp pháp của chị Phan Thị T, sinh năm 1983, trú tại Tổ dân phố số A, xã H, tỉnh Ninh Bình (là vợ của Nguyễn Văn B) nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị T quản lý, sử dụng là phù hợp.
[6] Đối với các đối tượng đã bán pháo hoa nổ cho Nguyễn Văn B trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2025 tại địa phận tỉnh Quảng Trị, do B không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh xử lý.
[7] Đối với anh Nguyễn Văn P1 (là chủ xe) và anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973 trú tại xóm N (H), xã H, tỉnh Ninh Bình (là người đổi lái xe cho B dọc chuyến đi). Anh P1 và anh Đ không có sự trao đổi, bàn bạc, thống nhất, không biết việc Nguyễn Văn B mua pháo nổ nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh P1 và anh Đ là phù hợp.
[8] Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ Điều 6 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 08 (T2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2025.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) giàn pháo nổ (loại pháo hoa nổ) cùng loại có cùng kích thước (17x17x9,5)cm, bên ngoài bọc nhiều giấy màu có chữ SKY 49 shots (đã trích lại giám định 02 quả trong mỗi giàn); 03 (ba) giàn pháo nổ có cùng KT (17x17x9,5)cm, bên ngoài bọc nhiều giấy màu có chữ GD4049D (đã trích lại giám định 02 quả trong mỗi giàn); 01 (một) giàn pháo nổ có KT (16,5x16,5x9,5)cm, bên ngoài bọc nhiều giấy màu có chữ C0845 (đã trích lại giám định 02 quả); 01 (một) giàn pháo nổ có KT (16,5x16,5x9,5)cm, bên ngoài bọc nhiều giấy màu có chữ KS4-9AB (đã trích lại giám định 02 quả). Toàn bộ số pháo trên được đựng trong 01 (một) thùng bìa cát tông KT (38x37,5x32) cm, được niêm phong dán kín, có chữ ký của các bên liên quan.
- Số pháo trên được Phòng K Công an tỉnh N bàn giao cho Công an xã H ngày 04/9/2025. Hiện đang được quản lý tại Công an xã H.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Phạm Hùng Phương |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 28/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ hàng cấm)
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn B phạm tội "Tàng trữ hàng cấm"
