|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày 28 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Ngọc Anh.
- Ông Danh Cư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Viết Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 012025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HS ngày MERGEFIELD Ngày_ban_hành 07 tháng 022025, đối với bị cáo:
La Ngọc Anh D; sinh năm 1981tại Thành phố H cư trú (nơi đăng ký thường trú: A N, Phường C, Quận E, Thành phố H ở: 2 L, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh ); nghề nghiệp: MERGEFIELD Nghề_nghiệp Khôngtrình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Namtôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Ngọc T (chết) và bà Nguyễn Kim V; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 14/12/2022, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 177/2022/HSST). Đến ngày 16/10/2023, chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 15/03/2023 nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.
Nhân thân: Ngày 12/10/2004 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ra Quyết định số 5645/QĐ-UB ngày 12/10/2004 về việc đưa người vào Cơ sở chữa bệnh đối với La Ngọc Anh D trong thời hạn 24 tháng. Ngày 04/6/2008, D được trở về địa phương tiếp tục quản lý và chữa bệnh.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2024 đến nay. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 00 giờ 15 phút ngày 02/10/2024, Công an P, Quận H tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà số B L, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này, La Ngọc Anh D và Nguyễn Hồng H đang ở trong nhà. Quá trình kiểm tra, cơ quan Công an phát hiện trên sàn nhà tầng trệt có 01 bình nhựa gắn 01 đoạn ống hút và 01 ống thủy tinh có chứa tinh thể; 01 đoạn ống nhựa chứa chất bột (D khai nhận tất cả là ma túy của D dùng để sử dụng) và 01 bật lửa màu xanh lá có chữ 555. Sau đó, Cơ quan Công an tiến hành thu giữ tang vật, dẫn giải D và H về trụ sở Công an P, Quận H để làm rõ.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q phối hợp với Công an P, Quận H khám xét khẩn cấp chỗ ở của D tại địa chỉ nêu trên. Kết quả: Không phát hiện, thu giữ gì.
Tại Bản kết luận giám định số 11619/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận:
- Tinh thể được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0472g, loại Methamphetamine.
- Chất bột được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0324g, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, La Ngọc Anh D khai nhận: D bắt đầu sử dụng ma túy từ năm đầu năm 2004 đến nay, loại ma túy D sử dụng là H1 (hình thức sử dụng là dùng ma túy bỏ vào ống kim tiêm, chích vào các mạch máu trên cơ thể) và ma túy đá (hình thức sử dụng là bỏ ma túy vào bộ dụng cụ, dùng bật lửa đốt, rồi hút vào cơ thể qua đường hô hấp). D thường sử dụng ma túy một mình tại nhà. Vật chứng thu giữ là dụng cụ để D sử dụng ma túy đá. D mua ma túy của một người đàn ông tên M (không rõ lai lịch), do D không sử dụng điện thoại nên M trực tiếp mang ma túy đến bán tại nhà cho D mỗi ngày một lần vào buổi sáng. Khoảng 09 giờ ngày 01/10/2024, M bán cho D 01 gói nylon chứa ma túy đá và 01 đoạn ống nhựa chứa Heroine với giá 200.000 đồng. Vào lúc 10 giờ cùng ngày, D sử dụng ma túy một mình, đến khoảng 23 giờ, H tới nhà D chơi, H không sử dụng ma túy với D. Đến 00 giờ 15 phút ngày 02/10/2024, cơ quan Công an đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Nguyễn Hồng H khai nhận: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 01/10/2024, H nhờ K (không rõ lai lịch) mua giúp 50.000 đồng tiền ma túy để sử dụng. Đến 23 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi H đã sử dụng ma túy một mình, H đến nhà của La Ngọc Anh D để xin ngủ nhờ. Lúc này, H nằm ngủ trên lầu tại nhà D. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 02/10/2024, Công an P, Quận H tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Tại Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 02/10/2024, cả D và H đều dương tính với chất ma túy (MET+MOP).
- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên La Ngọc Anh D và hình dấu Công an P, Quận H và các chữ ký cán bộ điều tra Trịnh Ngọc C, giám định viên Võ La Bảo Y, bên trong có: 01 bình nhựa gắn 01 đoạn ống hút và 01 ống thủy tinh chứa tinh thể;
- 01 bật lửa màu xanh lá có in chữ 555, thu giữ của bị cáo D.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS-Q8 ngày 17/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo La Ngọc Anh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuýtheo điểm a khoản 1 Điều 249Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo La Ngọc Anh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuýSau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có 01 bình nhựa gắn 01 đoạn ống hút và 01 ống thủy tinh chứa tinh thể (ma túy); tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa màu xanh lá có chữ 555.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 02/10/2024, tại nhà số B L, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo La Ngọc Anh Dcó hành vi cất giữ0,0472g Methamphetamine và 0,0324g Heroine, với mục đích để sử dụng thì bị Công an P, Quận H phát hiện. Xét bị cáo D đã từng bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 177/2022/HS-ST ngày 14/12/2022, chưa được xóa án tích nên được xác định là thuộc trường hợp “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Đây là tình tiết định tội quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo La Ngọc Anh D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
- Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
- Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2004 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh do sử dụng ma túy, từng bị Tòa án xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thể hiện thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo là không tốt. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét, cân nhắc để áp dụng mức hình phạt phù hợp với nhân thân của bị cáo.
- Xét thấy, bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên La Ngọc Anh D và hình dấu Công an P, Quận H và các chữ ký cán bộ điều tra Trịnh Ngọc C, giám định viên Võ La Bảo Y, bên trong có: 01 bình nhựa gắn 01 đoạn ống hút và 01 ống thủy tinh chứa tinh thể, xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và dụng cụ sử dụng ma túy nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
- 01 bật lửa màu xanh lá có chữ 555, thu giữ của bị cáo D là dụng cụ sử dụng ma túy, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
- Đối với đối tượng tên M đã bán ma túy cho D, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục xác minh để xử lý sau, do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
- Đối với đối tượng Nguyễn Hồng H không liên quan đến hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo La Ngọc Anh D, nhưng có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào ngày 01/10/2024. Do đó, ngày 04/10/2024, Công an Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H bằng hình thức phạt số tiền 1.500.000 đồng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường A Quận H có quyết định đưa vào Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B là phù hợp với quy định pháp luật.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo La Ngọc Anh D 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2024.
- - Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên La Ngọc Anh D và hình dấu Công an P, Quận H và các chữ ký cán bộ điều tra Trịnh Ngọc C, giám định viên Võ La Bảo Y, bên trong có: 01 bình nhựa gắn 01 đoạn ống hút và 01 ống thủy tinh chứa tinh thể;
- 01 bật lửa màu xanh lá có chữ 555, thu giữ của bị cáo D.
- (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/02/2025).
- - Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Buộc bị cáo La Ngọc Anh D nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 02/10/2024, tại nhà số B L, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo La Ngọc Anh D có hành vi cất giữ 0,0472g Methamphetamine và 0,0324g Heroine, với mục đích để sử dụng thì bị Công an P, Quận H phát hiện.
