|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH Bản án số:37/2025/HS-ST Ngày: 26/11/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Khả.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Khánh Uẩn.
Bà Nguyễn Thị Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đắc Văn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Ngô Văn V, sinh năm 1976 (Tên gọi khác: Không)
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã Đ, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn V1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ Nguyễn Thị D, sinh năm 1979; Có 03 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2008;
Tiền án: Có 04 tiền án, cụ thể:
- - Tại Bản án số 68/2008/HSST ngày 08/4/2008, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, e khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, tịch thu sung công 30.000.000 đồng, án phí hình sự 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/5/2010. Chưa thi hành số tiền 27.650.000 đồng (tiền sung quỹ Nhà nước).
- - Tại Bản án số 183/2011/HSST ngày 22/9/2011, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, án phí hình sự 200.000 đồng. Ngày 20/12/2011 thi hành xong án phí, ngày 14/6/2012 chấp hành xong hình phạt tù.
- - Tại Bản án số 37/2014/HSST ngày 27/3/2014, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, án phí hình sự 200.000 đồng, án phí dân sự 632.500 đồng, phải bồi thường cho bị hại 12.650.000 đồng. Ngày 01/11/2015 chấp hành xong hình phạt tù, thi hành xong án phí hình sự ngày 14/10/2014, án phí dân sự ngày 16/9/2015, chưa bồi thường dân sự cho bị hại.
- - Tại Bản án số 130/2019 ngày 14/10/2019, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, án phí hình sự 200.000 đồng. Ngày 19/5/2024 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 14/10/2019 thi hành xong án phí.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 30/12/2005, Công an huyện Đ (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt tiền 100.000 đồng về hành vi “Chiếm giữ trái phép tài sản”.
- - Ngày 15/8/2014, Công an huyện Đ (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”.
- - Ngày 21/8/2017, Ủy ban nhân dân huyện Đ (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt tiền 15.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép".
- - Ngày 22/12/2017, Công an huyện Đ (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Không giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ theo quy định”.
- - Ngày 15/01/2018, Công an huyện Đ (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt tiền 350.000 đồng về hành vi “Mua số lô, số đề”.
- - Ngày 04/11/2024, Công an huyện Đ (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt hành chính, bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam T, Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Anh Dương Đình Đ, sinh năm 1987. Trú tại: Khu phố H, phường T, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 21/6/2025, Ngô Văn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, không gắn biển kiểm soát (BKS) mang theo 01 kìm cộng lực bằng kim loại, 01 tô vít bốn cạnh (là của V mua ở đâu không rõ), mặc áo mưa màu tím, khẩu trang màu đen, bên trong là áo khoác chống nắng màu ghi xám, đi từ nhà ở thôn D đến phường T mục đích trộm cắp tài sản. Đến khoảng 02 giờ 50 phút cùng ngày, V đi đến khu vực Công an phường T cũ (nay là Công an phường Đ), tỉnh Bắc Ninh. Quan sát thấy không có người qua lại, V nảy sinh ý định vào trụ sở Công an phường trộm cắp tài sản. Sau đó, V để xe vào bụi rậm bên đường, cởi áo mưa cất vào cốp xe, mang theo kìm cộng lực, tô vít rồi đi bộ đến cổng sau của trụ sở Công an. Vỹ thấy cổng khóa, dùng kìm cắt tai khóa, mở cổng và đi vào khu vực để xe có mái che. Tại đây, V phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, BKS: 99B1-000.31 của anh Dương Đình Đ không khóa cổ, không khóa càng. Nhận thấy xe dễ bị mở khóa, V dùng tô vít tháo hai ốc ở hai bên đèn pha, sau đó giật dây điện bên trong đèn, làm xe khởi động được. Vỹ dắt xe ra ngoài theo lối cổng sau, rồi điều khiển xe cầm theo kìm cộng lực và tô vít về nhà cất giấu. Khi đến khu vực đồng thuộc khu phố Đ, phường P, V dừng xe, tháo BKS và vứt xuống mương nước rồi tiếp tục điều khiển xe về nhà. Trên đường đi V đã làm rơi kìm cộng lực và tô vít, rơi ở đâu Vỹ không nhớ. Đến khoảng hơn 04 giờ cùng ngày, V thuê xe Taxi 123, BKS 30A-630.25 do anh Vũ Văn N1 điều khiển, đến khu vực cổng sau Công an phường Trang Hạ cũ, lấy xe Honda Wave đi về nhà. Đến trưa cùng ngày, V sử dụng một viên đá mài số khung, số máy của xe H1 Dream trộm cắp vứt ở đâu không rõ, rồi điều khiển xe đến cửa hàng sửa chữa xe máy của ông Dương Văn H thuê ông H bảo dưỡng xe. ông H nhận xe nhưng chưa sửa chữa, thay thế phụ tùng gì của xe.
Ngày 25/6/2025 anh Đ có đơn trình báo sự việc, cùng ngày V đến Công an phường T (cũ) đầu thú khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên. Ngoài ra, V còn khai nhận có hành vi sử dụng ma túy ngày 22/6/2025 tại thôn D, xã Đ, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra có công văn gửi Công an xã Đ, thành phố Hà Nội để giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, màu trắng, số khung RLHJA392XPY522590, số máy: JA39E-3155765, 01 bộ quần áo mưa có họa tiết hình chấm bi màu trắng và 01 áo chống nắng có liền mũ màu ghi xám của Ngô Văn V;
- - 01 chiếc xe mô tô Honda Dream màu nâu, số khung: RLHHA0805AY059374, số máy: HA08E-1359389, không đeo BKS của ông Dương Văn H;
Tại Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên UBND thành phố T (cũ), tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chiếc xe mô tô Honda Dream màu nâu, số khung: RLHHA0805AY059374, số máy: HA08E-1359389, biển số 99B1 - 000.31, năm sản xuất 2011, xe cũ đã qua sử dụng, có giá trị là 17.000.000đồng”
Tại Kết luận số 1353/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Xe mô tô Honda Dream màu nâu, không biển số: số máy, số khung của xe mô tô gửi giám định bị tẩy xóa. Quá trình giám định khôi phục được hàng chữ số: HA08E-135939 đóng trên thân máy và hàng chữ số: RLHHA0805AY059374 đóng trên khung xe là nguyên thủy. Xe mô tô Honda Wave màu trắng không biển số: số máy, số khung của xe mô tô gửi giám định không bị tẩy xóa, không bị đóng lại. Hàng chữ số: JA39E-3155765 đóng trên thân máy và hàng chữ số: RLHJA392XPY522590 đóng trên khung xe là nguyên thủy.
Tại Kết luận số 2291/KL-KTHS ngày 08/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Dấu vết cắt trên bát khóa gửi giám định được hình thành bởi tác động lực cơ học (không có dấu vết hàn cắt bằng tác động nhiệt), có đặc điểm giống với đặc điểm của vết cắt hình thành bởi kìm cộng lực.
Với nội dung trên, Cáo trạng số: 20/CT-VKSKV7 ngày 03/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh truy tố các bị cáo Ngô Văn V về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận do thiếu tiền tiêu xài nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy của anh Dương Đình Đ. Bị cáo nhất trí với bản kết luận giám định và kết luận định giá tài sản và không có ý kiến gì. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh truy tố bị cáo là đúng, không oan cho bị cáo.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn V từ 36 đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/6/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ quần áo mưa màu tím, có họa tiết chấm bi trắng và 01 áo chống nắng màu ghi xám.
Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh.
Khi nói lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, kết luận giám định, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 02 giờ 50 phút ngày 21/6/2025, tại trụ sở Công an phường T cũ (nay là Công an phường Đ), tỉnh Bắc Ninh Ngô Văn V có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô Honda Dream, BKS 99B1-000.31 trị giá 17.000.000 đồng của anh Dương Đình Đ. Hành vi của bị cáo Ngô Văn V đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo đã có 04 tiền án chưa được xóa án tích, Bản án số 130/2019/HSST ngày 14/10/2019 đã nhận định hành vi của bị cáo là tái phạm, do vậy lần phạm tội này của bị cáo được tính là tái phạm nguy hiểm, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn, tạo ra tâm lý bất an trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo có 01 nhân thân xấu, nhiều lân bị xử phạt hành chính nhưng bị cáo không cải sửa. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã khai báo thành khẩn, đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước, nhưng xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 bộ quần áo mưa màu tím, có họa tiết chấm bi trắng và 01 áo chống nắng màu ghi xám bị cáo mặc trong khi đi trộm cắp không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Đối với ông Dương Văn H là người đã nhận bảo dưỡng xe mô tô Honda Dream BKS 99B1-000.31. Do V không nói và ông H không biết đó là xe mô tô do phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B không xử lý đối với ông H mà chỉ giáo dục nhắc nhở là phù hợp.
[9] Đối với kìm cộng lực, tô vít và viên đá sử dụng vào việc phạm tội và chiếc biển số 99B1-000.31. Trên đường về nhà, V đã vứt biển số và làm rơi kìm cộng lực và tô vít, không nhớ rơi tại khu vực nào. Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã truy tìm nhưng chưa thu hồi được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[10] Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave, màu trắng, số khung RLHJA392XPY522590, số máy: JA39E-3155765 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Bàn Thị C sinh năm 1993, trú tại: bản S, xã K, tỉnh Sơn La và là vật chứng thuộc vụ án hình sự “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 10/9/2024 tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu phố T, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh) theo quyết định khởi tố vụ án số 218 ngày 19/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T (cũ), tỉnh Bắc Ninh. Ngày 09/8/2025, Cơ quan điều tra đã bàn giao xe mô tô Honda Wave trên đến Phòng K Công an tỉnh B để giải quyết theo quy định của pháp luật nên Toà án không đề cập giải quyết,
Chiếc xe máy Honda Dream BKS 99B1-000.31 ngày 14/10/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã trả lại xe mô tô Honda Dream cho anh Đ. Anh Đ đã nhận lại xe mô tô nêu trên không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho V. Ông Nguyễn Văn T - đại diện Công an phường T (cũ) không có yêu cầu, đề nghị Vỹ bồi thường đối với chiếc tai khóa bị hư hỏng. Do vậy trách nhiệm dân sự Toà án không xem xét giải quyết.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”
-
Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Ngô Văn V 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 25/6/2025.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo Ngô Văn V 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/11/2025 để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ quần áo mưa màu tím, có họa tiết chấm bi trắng và 01 áo chống nắng màu ghi xám.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Ngô Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Sỹ Khả |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn V truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
