TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S TỈNH T Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày 25/6/2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S – TỈNH T
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Ngọc Trọng, ông Nguyễn Viết Mai
Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Hồng nhung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố S.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân TP S tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2025. Tại hội trường xét xử Toà án nhân dân TP S, tỉnh T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/TLHSST ngày 30 tháng 5 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33 ngày 04/6/2025, quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/HSST-QĐ, ngày 18/6/2025, quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ, ngày 25/6/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố S đối với:
Bị cáo: Lường Thị My – Sinh năm 2001.
Nơi đăng ký hộ khẩu và thường trú: TDP Bắc Nam, phường Trường Sơn, TP S, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12. Giới tính: Nữ; Quốc tịch việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lường Văn Dũng, con bà Trương Thị Mai; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Cao Văn Cường, Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2025 đến ngày 20/01/2025, áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/01/2025 đến nay.
Người bị hại:
- Chị Huỳnh Thị Kiều Trang – SN 1997
Đ/c: Số 26, đường Hùng Vương, phường Đông Dương, thành phố P, tỉnh K; - Chị Dương Thị Ngọc Lượng – SN 1997
Đ/c: Thôn Tân Phú, xã Tân Hương, huyện C, tỉnh T; - Đỗ Thị Khánh Linh – SN 1999
Đ/c: Số 30, đường Nguyễn Huy Tưởng, quận T, thành phố H - Chị Kiều Thị Yến – SN 1997
Đ/c: Tổ 11, thị trấn Yên Bình, huyện Y, tỉnh Y
Người làm chứng:
- Chị Vũ Thị Vui – SN 1978
Đ/c: TDP Bắc Nam, phường Trường Sơn, thành phố S, tỉnh T. - Anh Cao Văn Cường – SN 1998
Đ/c: TDP Bắc Nam, phường Trường Sơn, thành phố S, tỉnh T. - Anh Lường Quốc Khánh – SN 2005
Đ/c: TDP Minh Cát, phường Quảng Cư, TP S, tỉnh T.
Tại phiên tòa, có mặt bị cáo; Vắng mặt người bị hại, người làm chứng. bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2021, Lường Thị My, sinh năm 2001 ở tổ dân phố (TDP) Bắc Nam, phường Trường Sơn, thành phố S bán hàng online trên mạng xã hội Facebook với các mặt hàng chủ yếu là đồ gia dụng, xe điện nhập từ Trung Quốc; Đến đầu năm 2024, do tình hình kinh doanh khó khăn nên My đã dừng công việc kinh doanh này. Sau khi dừng kinh doanh, do cần tiền chi tiêu cá nhân, chữa bệnh cho con gái và thấy trong quá trình kinh doanh trước đây khách hàng dễ dàng tin tưởng và đặt cọc tiền mà không cần kiểm tra nhiều thông tin nên My đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền đặt cọc mua hàng của mọi người. Sau đó, My lên mạng tìm kiếm và tải các hình ảnh về sản phẩm trên mạng xã hội để chuẩn bị sẵn rồi sử dụng tài khoản Facebook “My Ngố” và trang “Hương My Order Taobao China” do My tạo ra để đăng bài bán hàng. Khi khách hàng liên lạc, My sẽ gửi các thông tin về sản phẩm rồi yêu cầu đặt cọc tiền trước vào khoản ngân hàng Techcombank số 8912866886 và ngân hàng VPbank số 0369666201 đều mang tên Lường Thị My và chiếm đoạt số tiền này mà không đặt mua hàng trả cho khách. Sau khi khách hàng đặt cọc, để tránh bị phát hiện My sẽ hẹn ngày giao hàng và đưa ra thông tin giả về việc hàng đang được vận chuyển để yêu cầu người mua tin tưởng thanh toán thêm tiền hoặc không hỏi thêm về hàng đã đặt cọc. Quá thời gian không nhận được hàng, khi người mua phản ánh thì My sẽ hẹn kiểm tra lại rồi không trả lời tin nhắn, nếu người nào tiếp tục hỏi nhiều, đòi trả lại tiền cọc và nói sẽ báo cáo đến Công an thì My hẹn và trả dần lại tiền để tránh bị tố giác.
Bằng thủ đoạn này Lường Thị My đã lừa đảo được 04 bị hại với tổng số tiền 18.500.000₫ (Mười tám triệu năm trăm nghìn đồng), cụ thể như sau:
- Chị Huỳnh Thị Kiều Trang, sinh năm 1997 ở số 26 đường Hùng Vương, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (sử dụng tài khoản Facebook tên “Kiều Trang”), ngày 23/4/2024 có nhắn tin với My qua tài khoản Facebook “Hương My - Order Taobao China” hỏi mua xe điện thì được yêu cầu phải đặt cọc trước số tiền 3.500.000 đồng. Chị Trang tin là thật nên đã đồng ý, và sử dụng tài khoản ngân hàng Mbbank số 0946662899 chuyển 3.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng VPbank của My. Sau khi chuyển tiền My tiếp tục nhắn tin báo chi phí phát sinh do vận chuyển xe tải là 3.000.000₫, chi phí đổi xe mới là 2.000.000 đồng, chị Trang tin là thật nên đã tiếp tục chuyển thêm tiền cho My. Tổng số tiền chị Trang đã chuyển cho My 3 lần là 8.500.000đ.
- Chị Dương Thị Ngọc Lượng, sinh năm 1997 ở thôn Tân Phú, xã Tân Hương, huyện C, tỉnh T (sử dụng tài khoản Facebook tên “Phương Ngọc”), ngày 12/5/2024 nhắn tin với My qua tài khoản Facebook “My Ngố” hỏi mua xe điện thì được yêu cầu phải đặt cọc trước số tiền 1.000.000 đồng. Chị Lượng tin là thật nên đã đồng ý và sử dụng tài khoản ngân hàng Mbbank số 0986649460 chuyển 1.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng Techcombank của My. Sau khi chị Lượng chuyển tiền, My tiếp tục nhắn tin chào mời mua thêm nhiều mặt hàng khác và phải đặt cọc thêm. Chị Lượng tin là thật nên đã chuyển nhiều lần tiền cho My (gồm 02 lần chuyển 1.000.000 đồng, 01 lần chuyển 1.500.000 đồng và 01 lần chuyển 3.500.000 đồng), tổng số tiền mà chị Lượng đã chuyển cho My là 7.000.000 đồng.
- Chị Đỗ Thị Khánh Linh, sinh năm 1999, ở số 30 đường Nguyễn Huy Tưởng, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội (sử dụng tài khoản Facebook tên “Đỗ Khánh Linh”), ngày 17/10/2024 do có nhu cầu mua xe máy điện đã nhắn tin với My qua tài khoản Facebook "Hương My - Order Taobao China” để tìm mua xe điện. Sau khi tìm hiểu chị Linh đã tin tưởng rồi sử dụng tài khoản ngân hàng MBbank số 9905041996 chuyển số tiền 2.000.000 đồng cho My để đặt cọc hàng. Sau khi nhận được tiền chuyển vào tài khoản ngân hàng Techcombank, My không đặt hàng, không trả lời tin nhắn và chiếm đoạt số tiền trên.
- Chị Kiều Thị Yến, sinh năm 1997 ở tổ 11, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (sử dụng tài khoản Facebook tên “Gia Hưng”) vào ngày 10/11/2024 nhắn tin với My qua tài khoản Facebook “My Ngố” hỏi mua xe điện thì được yêu cầu phải đặt cọc trước số tiền 1.000.000 đồng. Chị Yến tin là thật nên đồng ý và sử dụng tài khoản ngân hàng Techcombank số 8512091997 chuyển số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản Techcombank của My.
Đến ngày 17/01/2025 biết không thể trốn tránh nên Lường Thị My đã xin đầu thú về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax đã qua sử dụng, gắn sim số 0369.666.201.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax đã qua sử dụng, gắn sim số 0369.666.201 đã qua sử dụng của Lường Thị My, hiện đang quản lý theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Lường Thị My đã khắc phục hậu quả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại gồm: Đỗ Thị Khánh Linh số tiền 2.000.000 đồng, Huỳnh Thị Kiều Trang số tiền 8.500.000 đồng, Dương Thị Ngọc Lượng số tiền 7.000.000 đồng và Kiều Thị Yến số tiền 1.000.000 đồng. Các bị hại sau khi nhận lại tiền không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Cáo trạng số 35 ngày 27/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn truy tố: Lường Thị My về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: - Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 174; Điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Về mức hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Lường Thị My mức án từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về Vật chứng: 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax đã qua sử dụng, gắn sim số 0369.666.201 của Lường Thị My, không sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi lừa đảo nên trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục hậu quả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại, các bị hại sau khi nhận lại tiền không có yêu cầu đề nghị gì khác nên miễn xét. buộc bị cáo phải chịu án phí.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên, ở các giai đoạn điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định trong bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lường Thị My đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do cần tiền chi tiêu cá nhân, nên liên tục từ tháng 4/2024 đến tháng 11/2024 Lường Thị My đã sử dụng các tài khoản Facebook tên “My Ngố” và trang “Hương My Order Taobao China” rồi đăng bài bán hàng các mặt hàng gia dụng, xe điện nhập từ Trung Quốc. Lường Thị My đã đưa ra thông tin gian dối để các bị hại tin tưởng rồi chuyển tiền đặt cọc và chiếm đoạt số tiền cọc với tổng số tiền là 18.500.000đ.
Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 174 BLHS.
[3]. Xét tính chất của vụ án. Với mục đích chiếm đoạt tài sản để lấy tiền chi tiêu cá nhân, bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối để các bị hại tin tưởng rồi chuyển tiền đặt cọc và chiếm đoạt số tiền cọc là 18.500.000đ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang cho người dân, vì vậy cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 BLHS. Quá trình điều tra và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo đang có thai; đầu thú, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nhưng bị cáo là người có nhân thân tốt, bị cáo nhiều lần phạm tội nhưng mỗi lần đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vì vậy xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[5]. Về vật chứng: Sau khi Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa đã xác minh theo lời khai của bị cáo: Quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo sử dụng chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng để liên hệ với các bị hại, chiếc điện thoại đã bị hỏng màn hình, pin và vỡ lưng, cùng với ngày mua chiếc điện thoại Iphone16 nêu trên, chị đã bán chiếc điện thoại Iphone12 cho chủ cửa hàng Tín Phát là anh Lê Nhữ An lấy số tiền 3.500.000 đồng, linh kiện điện thoại đã bị tháo lắp, thay thế sửa chữa cho khách hàng hiện tại không còn nữa, nên không có cơ sở để truy thu.
01 điện thoại di động Iphone 16 Promax đã qua sử dụng, gắn sim số 0369.666.201 của Lường Thị My, bị cáo mua ngày 13/12/2024, hiện đang quản lý theo hồ sơ vụ án, bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại này để thực hiện hành vi lừa đảo (hành vi lừa đảo của bị cáo xác định được thực hiện từ 4/2024 đến tháng 11/2024), nên trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6]. Về trách nhiệm dân sự. Bị cáo đã khắc phục hậu quả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại, các bị hại sau khi nhận lại tiền không có yêu cầu đề nghị gì khác nên miễn xét.
[7]. Hình phạt bổ sung. Hiện tại bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, đang nuôi con nhỏ, đang có thai nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8]. Án phí. Bị cáo thuộc trường hợp phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 – UBTVQH14 về án phí, lệ phí toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 174; Điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 về án phí lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Lường Thị My phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt: Lường Thị My 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lường Thị My, cho Ủy ban nhân dân phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Lường Thị My, cho Công an phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn giám sát trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Về vật chứng: Trả lại 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax đã qua sử dụng, gắn sim số 0369.666.201 cho bị cáo Lường Thị My. Theo biên bản giao nhận vật chứng số 34/BBVC-CCTHA, ngày 30/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn.
Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho các bị hại và không đề nghị gì thêm.
Án phí: Bị cáo phải nộp 200 000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Phong |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S – TỈNH T về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S – TỈNH T
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo qua mạng
