Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày 25 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam và bà Đặng Thị Mỹ Hường
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 03/2024/TB-TA ngày 05 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Thiện H, sinh năm: 1995, tại huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Số D, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm: 1969 và bà Nguyễn Đức Bảo C, sinh năm: 1973; có vợ Bùi Thị Ánh T1, sinh năm: 1995 (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm: 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/12/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).

- Bị hại:

  • + Bà Võ Thị B, sinh năm: 1968; Địa chỉ: số G, tổ D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0869.277.xxx (vắng mặt).
  • + Anh Nguyễn Hoàng T2, sinh năm: 1989; Địa chỉ: tổ E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0947.227.xxx (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Bùi Thị Ánh T1, sinh năm: 1995; Địa chỉ: số G, tổ D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0374.308.01 (có mặt).
  • + Ông La Đoàn Vũ K, sinh năm: 1996; Địa chỉ: số B, đường B, khóm Đ, phường Đ (nay là phường M), thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  • + Ông Trần Hữu N, sinh năm: 2002; Địa chỉ: số B khóm Đ, phường Đ (nay là phường M), thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0358.885.xxx (vắng mặt).

- Người làm chứng:

  • + Ông Bùi Văn C1, (vắng mặt).
  • + Ông Trần Duy K1, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 02 tháng 12 năm 2024 đến ngày 04 tháng 12 năm 2024, Lê Thiện H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố L, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 02 tháng 12 năm 2024, Lê Thiện H đến nhà của chị Bùi Thị Ánh T1 (vợ H, đã ly hôn) số 781/10, tổ D, khóm T, phường M, thành phô Long Xuyên xin ngủ lại qua đêm thì được ông Bùi Văn C1 (ba của chị T1) đồng ý. Đến khoảng 05 giờ 50 phút cùng này, H thấy xe mô tô biển số 67B2-265.71 hiệu Honda Vision màu trắng xám của bà Võ Thị B (mẹ của T1) cho T1 mượn để làm phương tiện đi lại, đang dựng tại phòng khách trong nhà T1 không ai trông giữ, thì H lấy chìa khóa trên tủ thờ nại khóa xe mô tô 67B2-265.71 điều khiển đến gửi cho người bạn tên H1 (không rõ nhân thân) tại nhà trọ V1 thuộc tổ B, khóm Đ, phường Đ. Phát hiện mất xe mô tô 67B2-265.71, chị T1 đến Công an phường M trình báo.

Vụ thứ hai: Khoảng 22 giờ ngày 03 tháng 12 năm 2024, H đến nhà Nguyễn Hoàng T2 tổ 57, khóm Đ, phường M, thành phố L chơi và ngủ lại. Đến khoảng 06 giờ 20 phút ngày 04 tháng 12 năm 2024, H thấy xe mô tô biển số 95H1-751.51 hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen của T2 khóa cổ, T2 còn ngủ nên nảy sinh ý định lấy trộm xe của T2. Để thực hiện, H dùng kéo bẻ khóa xe mô tô 95H1-751.51 rồi điều khiển xe đến khu vực cầu D, phường M, thành phố L làm lại chìa khóa xe. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, H đem xe mô tô 95H1-751.51 đưa cho L Đoàn Vũ K nhờ đem đi cầm dùm với giá 4.500.000 đồng, nhưng không nói cho K biết xe do H trộm cắp mà có. K liên hệ Trần Hữu N cầm xe mô tô 95HI-751.51 với giá 5.000.000 đồng. Phát hiện mất xe mô tô 95H1-751.5 1, anh T2 đến Công an phường M trình báo.

Ngày 07 tháng 12 năm 2024, Lê Thiện H đến Công an phường M đầu thú, thừa nhận hành vị trộm cắp tài sản.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67B2-265.71 hiệu Honda Vision màu trắng xám; 01 điện thoại di động hiệu Redmi có gắn thẻ sim. Ngày 26 tháng 12 năm 2024, La Đoàn Vũ K giao nộp xe mô tô biển số 95H1-751.51 hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen.

Kết luận định giá số 2522/KL-HĐĐGTS ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố L, xác định: 01 xe mô tô biển số 67B2-265.71 hiệu Honda Vision màu trắng xám trị giá 17.000.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 95H1-751.51 hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen trị giá 22.780.000 đồng; tổng trị giá 39.780.000 đồng.

Bị hại bà Võ Thị B và anh Nguyễn Hoàng T2 trình bày việc mất trộm xe mô tô như nội dung vụ án, đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường.

La Đoàn Vũ K, Trần Hữu N trình bày phù hợp nội dung vụ án. Ngoài ra, K khai nhận được tiền công giới thiệu cầm xe 500.000 đồng từ H; N cầm xe mô tô 95H1-751.51 từ K với giá 5.000.000 đồng, nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có, không yêu cầu H bồi thường.

Trần Văn B1, Trần Văn V, S, Trương Thanh H2 Tại Cáo trạng số 47/CT-VKSLX ngày 17/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Lê Thiện H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lê Thiện H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thiện H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi có gắn thẻ sim, đã qua sử dụng.

Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn, hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị hại, cùng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K, ông N và người làm chứng vắng mặt không có lý do; đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc xét xử, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của người tham gia tố tụng nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:

Từ ngày 02/12 đến ngày 04/12/2024, Lê Thiện H lợi dụng sự thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản của bị hại đã 02 lần lén lút thực hiện hành vi lấy trộm 02 xe mô tô, gồm: 01 xe mô tô của bà Võ Thị B, 01 xe mô tô của anh Nguyễn Hoàng T2, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 39.780.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm tù (tội phạm ít nghiêm trọng).

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra, bị cáo phải siêng năng lao động, tự tìm cho mình một việc làm chân chính để nuôi sống bản thân, phụ giúp gia đình và trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội. Trái lại, chỉ vì tham lam, lười lao động, muốn có tiền để tiêu xài mà không phải tốn nhiều công sức lao động, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 39.780.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, có gắn thẻ sim, đã qua sử dụng (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).

[8] Đối với La Đoàn Vũ K và Trần Hữu N khi cầm xe mô tô 95H1-751.51 không biết xe này do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với K, N là có căn cứ.

H khai sử dụng tiền cầm xe để đánh bạc trực tuyến, ngoài lời khai của H không còn chứng cứ khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

H1 (chưa rõ nhân thân) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

[9] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thiện H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Xử phạt bị cáo Lê Thiện H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 07/12/2024).

[2] Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, có gắn thẻ sim, đã qua sử dụng (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).

[3] Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thiện H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà T1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP Long Xuyên;
  • - Phân trại tạm giam KV Long Xuyên;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thiện Huân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger