Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày 11-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hậu
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Hà Thị Nga
    • Ông Nguyễn Văn Hạnh
  • Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Cẩm Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 2 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 129/2025/HSST-QĐ ngày 03/3/2025, đối với bị cáo:

Phạm Quang V, sinh ngày 30 tháng 11 năm 1981 tại Thái Bình; nơi ĐKTT: Số E N, phường V, quận L, Hải Phòng; nơi sinh sống: không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quang H và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Phạm Thu H1 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiện sự: Không; nhân thân: Bản án số 537/2006/HSST ngày 28/12/2006 Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tháng 9/2007 đã nộp án phí (đã được xóa án tích); bị bắt tạm giữ từ ngày 02/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 11/10/2024; có mặt.

Bị hại: Công ty T; địa chỉ trụ sở: Tầng G, 8 và 10 Toà nhà Phụ nữ, số B N, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lê Đình G – chuyên viên an ninh Công ty; địa chỉ nơi làm việc: Tầng G, 8 và 10 Toà nhà Phụ nữ, số B N, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền số 190/2024/GUQ-SE ngày 01/10/2024); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11/2021, Phạm Quang V đi bộ tại khu vực cầu N trên địa bàn quận L, Hải Phòng thì nhặt được 01 giấy Chứng minh nhân dân (viết tắt là CMND) số [...], mang tên Hoàng Văn Đ, sinh năm: 1988, nơi ĐKHK thường trú: Q, Q, Thái Bình, do Công an tỉnh T cấp ngày 08/10/2012. V nảy sinh ý định sử dụng giấy CMND vừa nhặt được để đi chiếm đoạt tài sản. Sau đó V cắt phần nhựa ép plastic của giấy CMND và thay ảnh của V vào ảnh của người trong giấy CMND rồi ép plastic lại. Ngày 27/11/2021 V đến siêu thị Đ1 tại số B T, L, Hải Phòng, chọn mua trả góp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 6 với giá 12.990.000 đồng. V lấy tên là Đ và sử dụng giấy CMND mang tên Hoàng Văn Đ làm căn cứ chứng minh giấy tờ tùy thân để làm thủ tục. Khi làm thủ tục mua trả góp, V trả trước số tiền 3.897.000 đồng cho siêu thị, làm hợp đồng tín dụng vay 9.093.000 đồng và sẽ trả góp hàng tháng, mỗi tháng V trả 1.527.000 đồng cho Công ty T, địa chỉ tầng G, 8 và 10 Tòa nhà Phụ nữ, số B N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Công ty T). Công ty T đã chụp ảnh chân dung của V và ảnh CMND để lưu lại trong hồ sơ vay vốn điện tử của V. Sau khi mua điện thoại trả góp, V không thực hiện việc trả góp hàng tháng như trong hợp đồng đã ký với Công ty T và khoảng 6 tháng sau, V đã bán chiếc điện thoại trên cho một người không rõ lai lịch ở quán game.

Ngày 30/9/2024, Phạm Quang V đến cửa hàng mua bán điện thoại Cellphone S ở số B T, L, Hải Phòng mua trả góp điện thoại và cung cấp Căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Quang V để làm hợp đồng tín dụng với nhân viên của Công ty T. Quá trình làm thủ tục, nhân viên của Công ty T chụp ảnh chân dung, Căn cước công dân của V và gửi hình ảnh lên hệ thống của Công ty để nhận dạng và xác minh hình ảnh thì phát hiện hình ảnh của V có nhiều điểm tương đồng với hình ảnh của hồ sơ Hoàng Văn Đ, sinh năm 1988, nơi ĐKHK thường trú: Q, Q, Thái Bình có hợp đồng tín dụng mua trả góp điện thoại di động số tiền 9.093.000 đồng từ thời điểm tháng 11/2021 tại siêu thị Đ1 xanh số 279 T, L, Hải Phòng nhưng sau đó không thanh toán khoản tiền nào của hợp đồng trên. Công ty T phát hiện CMND mang tên Hoàng Văn Đ được sử dụng để làm hợp đồng mua trả góp và khách hàng Phạm Quang V có dấu hiệu bất thường nên đã hẹn V ngày hôm sau tiếp tục đến làm thủ tục. Ngày 01/10/2024, đại diện Công ty T đã đến Công an phường N trình báo sự việc, khi lực lượng Công an đến cửa hàng C thấy Phạm Quang V đang làm thủ tục mua hàng nên mời về trụ sở để làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra, V khai nhận: Ngày 27/11/2021 V đã sử dụng giấy CMND nhặt được, thay ảnh mặt mình vào để đi lừa đảo dưới hình thức mua điện thoại trả góp nhằm chiếm đoạt số tiền phải thanh toán là 9.093.000 đồng. Việc V thay ảnh của mình vào CMND thì Công ty T sẽ nghĩ CMND mang tên Hoàng Văn Đ là giấy tờ cá nhân của V và khi V không thanh toán thì Công ty T sẽ không tìm được thông tin, địa chỉ thật của V.

V đã giao nộp Cơ quan Công an: Căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Quang V. Đối với CMND mang tên Hoàng Văn Đ, V đã làm mất từ lâu.

Đại diện Công ty T cung cấp cho Cơ quan Công an tài liệu in hình ảnh chụp giấy CMND mang tên Hoàng Văn Đ có dán ảnh của Phạm Quang V và hình ảnh chụp chân dung V khi làm thủ tục hợp đồng tín dụng mua điện thoại trả góp năm 2021; 01 Hợp đồng tín dụng vay số tiền 9.093.000 đồng của người mang tên Hoàng Văn Đ với Công ty T vào ngày 27/11/2021; 01 giấy biên nhận thu tiền thể hiện việc mua bán điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 6 giá 12.990.000 đồng của siêu thị Điện máy xanh với khách hàng Hoàng Văn Đ. Tiến hành cho Phạm Quang V xác định tài liệu do Công ty T cung cấp, V xác định người có ảnh chân dung trong tài liệu Công ty cung cấp chính là V khi làm hợp đồng mua trả góp điện thoại năm 2021 và ảnh của người trong giấy CMND mang tên Hoàng Văn Đ chính là V.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu thập tài liệu tờ khai Chứng minh nhân dân của anh Hoàng Văn Đ (lai lịch như trên) tại Công an tỉnh T, xác định năm 2012 anh Đ được Công an tỉnh T cấp Giấy chứng minh nhân dân số [...]. Hình ảnh chụp trong tờ khai Giấy chứng minh nhân dân không giống với ảnh của người trong Giấy chứng minh nhân dân trong tài liệu ảnh chụp do Công ty T cung cấp.

Anh Hoàng Văn Đ khai: Anh bị mất CMND từ năm 2021 tại Hải Phòng nhưng không nhớ ở địa điểm nào. Anh không quen biết ai là Phạm Quang V. Thông tin trên CMND trong tài liệu ảnh chụp do Công ty T cung cấp là của anh Đ nhưng ảnh không phải là anh Đ.

Về vật chứng của vụ án: Chuyển theo hồ sơ vụ án 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Quang V.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Quag V1 đã trả số tiền 9.093.000 đồng cho Công ty T, Công ty không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSLC ngày 11/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Quang V Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội Sửa chữa và sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức, theo quy định tại khoản 1 Điều 340 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Quang V đã khai nhận hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và hành vi Sửa chữa và tài liệu của cơ quan, tổ chức đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại Công ty T vắng mặt tại phiên toà đã được công bố các lời khai có trong hồ sơ thể hiện đã nhận lại số tiền 9.093.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng; đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; khoản 1 Điều 340; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Quang V mức án từ 12 đến 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; từ 09 đến 12 tháng tù về tội Sửa chữa và sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức. Bị cáo phải chịu hình phạt chung đối cả hai tội là từ 21 đến 30 tháng tù. Bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với bản luận tội của kiểm sát viên và không tranh luận gì. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

[2] Lời khai của bị cáo Phạm Quang V tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, Kết luận Giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, khẳng định: Tháng 11/2021, Phạm Quang V có hành vi sửa chữa giấy tờ đã cấp bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng cách thay ảnh của mình vào ảnh trong giấy CMND có số [...], mang tên Hoàng Văn Đ, sử dụng giấy tờ này để cung cấp thông tin cá nhân gian dối, chiếm đoạt số tiền 9.039.000 đồng của Công ty T tại siêu thị Đ1 ở số B T, L, Hải Phòng.

[3] Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phạm Quang V phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội Sửa chữa và sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 340 Bộ luật Hình sự.

[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo:

[5] Hành vi phạm tội của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự quản hành chính của nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Nhân thân bị cáo năm 2006 đã có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, mặc dù đã được xoá án nhưng cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, coi thường pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[6] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Bộ luật hình sự đối với cả hai tội. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại vì vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Về quyết định hình phạt:

[8] Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

[9] Bị cáo bị xét xử về nhiều hành vi phạm tội do đó Hội đồng xét xử sẽ quyết định hình phạt của từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[10] Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

[11] Bị hại Công ty T không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng:

[12] Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Quang V không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Về án phí:

[13] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[14] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; khoản 1 Điều 340; điểm b (đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố:

Bị cáo Phạm Quang V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sửa chữa và sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt:

Bị cáo Phạm Quang V 18 (mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 09 (chín) tháng tù về tội “Sửa chữa và sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là: 27 (hai mươi bảy) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/10/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Quang V.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Quang V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Phạm Quang V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại Công ty T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại:
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Phòng PC06, PC10 Công an TP Hải Phòng;
  • - UBND phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hậu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sửa chữa và sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sửa chữa và sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Quang Vinh“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sửa chữa và sử dụng tài liệu của cơ quan tổ chức”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger