Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày: 19-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Lê Thị Hương;
  2. Ông Lê Anh Thơ;

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Anh Thư, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Công an xã T, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2025/HSST ngày 04 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Phương Quốc T, tên gọi khác: không; sinh ngày 03/5/1981 tại xã Đ, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm D, xã Đ, tỉnh Nghệ An; Căn cước công dân số: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phương Tiến V; con bà: Đậu Thị H; vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: ngày 28/12/2006 Bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/2006/HS – ST; chấp hành xong bản án ngày 31/8/2012. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/8/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 13/8/2025, Phương Quốc T đi bộ đến khu vực cầu T thuộc xóm E, xã K, tỉnh Nghệ An thì gặp một người đàn ông, qua nói chuyện T biết người này tên là H1 (T không biết họ, tên tuổi, địa chỉ cụ thể) và biết người này cũng từng sử dụng chất ma tuý nên T đưa cho người đàn ông này số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) để nhờ mua ma tuý với mục đích để sử dụng thì người đàn ông này đồng ý và nói T đứng chờ. Một lúc sau người đàn ông này quay lại và đưa cho T 01 (một) gói ni lông màu trắng bên trong có 05 (năm) gói nhỏ ma tuý (loại Heroine). T bỏ số ma tuý vừa mua được vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi về. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày 13/8/2025, khi T đi đến khu vực nghĩa trang C thuộc địa phận xóm E, xã K, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an xã K, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc của T 01 (một) gói ni lông màu trắng bên trong có 05 (năm) gói nhỏ có chứa chất cục bột màu trắng (nghi là Heroine).

Ngày 13/8/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã thành lập Hội đồng tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu đi giám định và niêm phong lại.

Tại bản kết luận giám định số 352/KL-KTHS(D2-MT) ngày 18/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu chất cục bột màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M5) thu giữ của Phương Quốc T gửi đến giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Số chất cục bột màu trắng thu giữ của Phương Quốc T có khối lượng là 0,615g (không phẩy sáu trăm mười lăm gam)".

Vật chứng thu giữ gồm: Quá trình điều tra đã thu giữ của Phương Quốc T 05 (năm) gói Heroine có khối lượng 0,615g (không phẩy sáu trăm mười lăm gam) đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Còn lại một vỏ bao bì, vỏ niêm phong ban đầu hiện đang được bảo quản tại cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

Tại Cáo trạng số 26/ CT-VKSKV5 ngày 03 tháng 12 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An đã truy tố bị cáo Phương Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên toà, Bị cáo đã khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phương Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 xử phạt bị cáo Phương Quốc T từ 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù đến 4 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam là ngày 13/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: tịch thu, tiêu hủy đối với: một vỏ bao bì, vỏ niêm phong ban đầu.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp.

[2]. Về chứng cứ xác định tội danh: Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 13 tháng 8 năm 2025; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập hồi 10 giờ 40 phút ngày 13 tháng 8 năm 2025; Kết luận giám định số 352/KL -KTHS(DD2 - MT) ngày 18 tháng 8 năm 2025 của phòng K Công an tỉnh N, phù hợp với vật chứng vụ án và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở kết luận: Phương Quốc T là người nghiện ma túy, nên khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại khu vực nghĩa trang C thuộc xóm E, xã K, tỉnh Nghệ An, T đã có hành vi cất dấu trái phép 05 (năm) gói Heroine có tổng khối lượng 0,615 g (không phẩy sáu trăm mười lăm gam) với mục đích để sử dụng thì bị công an xã K, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt giữ.

Bị cáo T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm lỗi do cố ý. Nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Nghệ An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.

[3]. Về hình phạt:

Vụ án thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Bị cáo là người trực tiếp thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Bị cáo biết và nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo là người nghiện nên mua ma túy, tàng trữ ma túy để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, không những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, làm cho tệ nạn ma tuý ngày càng gia tăng. Bị cáo là người có nhân thân xấu, Hành vi phạm tội của bị cáo là thể hiện sự xem thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước nên cần thiết phải xử phạt tù đối với bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của Pháp luật.

Tuy nhiên, xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, khi xem xét lượng hình cần cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật. Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa hôm nay đối với bị cáo là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 (một) bì thư bưu điện được niêm phong theo đúng quy định chứa vỏ bao bì, vỏ niêm phong ban đầu vật chứng thu giữ của Phương Quốc T, sinh năm 1981, trú tại xã Đ, tỉnh Nghệ An. Xét đây là công cụ mà đối tượng sử dụng vào việc phạm tội nên cần áp dụng khoản 2 Điều 106 BLTTHS; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự để tịch thu tiêu huỷ.

[6]. Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Phương Quốc T chỉ biết tên H1, nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024 2025: Tuyên bố bị cáo Phương Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phương Quốc T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam là ngày 13/8/2025.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) bì thư bưu điện được niêm phong theo đúng quy định chứa vỏ bao bì, vỏ niêm phong ban đầu vật chứng thu giữ của Phương Quốc T, sinh năm 1981, trú tại xã Đ, tỉnh Nghệ An. (đặc điểm chi tiết vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 12 tháng 12 năm 2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Nghệ An).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phương Quốc T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu Vực 5 - Nghệ An;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - VKS nhân dân tỉnh Nghệ An;
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.
  • - Lưu VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phương Quốc Tuấn -“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger