Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH BẢO,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày 19-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Đức Vịnh

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Quyết

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Khanh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 04/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HS ngày 05/6/2025, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Kim K, sinh ngày 27/4/1988 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim C (đã chết) và bà Phạm Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/12/2020, Công an xã H, huyện V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPKLBB phạt Nguyễn Kim K 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, K nộp phạt ngày 30/12/2020 theo biên lai thu tiền phạt số 0007870 (đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính) và Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 01/QĐ-TA ngày 14/01/2021 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo đối với Nguyễn Kim K trong thời hạn là 12 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Kiên chấp hành xong quyết định ngày 03/11/2021 (đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 10/10/2024 đến nay, có mặt.
  2. Phạm Thế D, sinh ngày 19/01/1991 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thế T và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Trần Thị G và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 23/4/2025 đến ngày 23/5/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đến nay, có mặt.
  3. Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 03/7/1989 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức D1 và bà Trần Thị Đ1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 23/4/2025 đến ngày 23/5/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đến nay, có mặt.
  4. Nguyễn Đức T1, sinh ngày 02/9/1980 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức D1 và bà Trần Thị Đ1; có vợ là Phạm Thị H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 23/4/2025 đến ngày 23/5/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đến nay, có mặt.
  5. Đoàn Tiến G1, sinh ngày 21/6/1993 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Tiến T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Phạm Thị Hồng G2 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/4/2025 đến nay, có mặt.
  6. Đoàn Tiến M1, sinh ngày 20/02/1993 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Tiến D2 và bà Nguyễn Thị M2; có vợ là Phạm Thị H2 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 23/4/2025 đến ngày 23/5/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đến nay, có mặt.
  7. Nguyễn Minh V, sinh ngày 26/4/1993 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn G, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H3 và bà Phạm Thị L; có vợ là Nguyễn Thị T3 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 23/4/2025 đến ngày 23/5/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đến nay, có mặt.

- Bị hại:

  • + Phạm Thế D, sinh ngày 19/01/1991 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng, có mặt;
  • + Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 03/7/1989 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng;
  • + Nguyễn Đức T1, sinh ngày 02/9/1980 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng.
  • - Người làm chứng: Anh Trần Tăng A, có mặt; chị Nguyễn Thị H1, có mặt; anh Phạm Thế T4, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiếp nhận tin báo về tội phạm của Công an xã H (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng về việc: Khoảng 19h00 ngày 14/4/2024, tại quán B thuộc thôn A, xã H (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng xảy ra vụ việc đánh nhau giữa nhóm của Phạm Thế D, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn L, xã V (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng với nhóm của Đoàn Tiến G1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn A, xã H (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng là chủ quán bia. Hậu quả làm Nguyễn Đức T1, Nguyễn Đức Đ và Phạm Thế D bị thương, đi bệnh viện cấp cứu.

Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 18h30, ngày 14/4/2024, tại quán B ở thôn A, xã H (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng có 02 nhóm đối tượng ngồi uống bia tại 02 bàn khác nhau. Bàn thứ nhất gồm có Đoàn Tiến G1, Nguyễn Kim K, Nguyễn Minh V và Đoàn Tiến M1; bàn thứ hai có Phạm Thế D, Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Đức T1, Trần Tăng A, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn L, xã V (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng; Phạm Thế T4, sinh năm 1991, nơi cư trú: Thôn L, xã V (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng và A M3 (người Trung Quốc) không rõ căn cước lý lịch. Đoàn Tiến G1 đứng dậy cầm cốc bia sang mời bia nhóm đối tượng bàn thứ hai nêu trên. Trong lúc mời bia, nói chuyện với nhau thì G1 nói đến ông “Thuyết Dộng” tức là bố vợ của Phạm Thế D khiến D tức giận. Hai đối tượng lời qua tiếng lại thì D bảo G1 không được nói như vậy nếu mà G1 còn nói đến ông “Thuyết Dộng” thì D sẽ bẻ gối ném xuống ao. Thấy D nói vậy, T1 cùng nhóm D cũng tham gia vào dẫn đến xảy ra việc cãi vã, mâu thuẫn.

Khoảng hơn 19h00 cùng ngày, D đứng ở cạnh bàn nói to: “Anh đi cái đất Hiệp Hòa này không vướng, nhạc gì anh cũng nhảy”. Nghe vậy, Nguyễn Kim K nói vọng sang: “Lô D2 chúng mày tuổi gì”. Du và K lời qua tiếng lại dẫn đến mâu thuẫn cãi vã nhau. D cùng với Đ đứng dậy sang đánh nhau. Du đến gần K thì dùng tay phải tát vào mặt K dẫn đến việc K và D đấm đá, liên tục chửi nhau. Thấy vậy, Đ cũng lao vào đánh K. K bị đánh chạy vào bếp nấu ăn ở quán lấy 02 con dao, tay trái K cầm 01 con dao phay, tay phải K cầm 01 con dao bầu để đánh nhau với D, Đ. Ba người này liên tục dùng lời lẽ thô tục chửi bới, thách thức nhau. Đoàn nhặt cốc bia thủy tinh có sẵn ở bàn bia ném về phía K nhưng không trúng. K né được lao đến dùng dao bầu chém vào vùng mặt bên trái của Đ. Đoàn bị chém thì nhặt ghế nhựa lên chống trả lại K. Thấy Đ bị chém, T1 cầm điếu cày lấy ở gầm bàn lao vào đập K nhưng không trúng thì bị G1 giằng lại điếu cày từ tay T1. K lao vào chém T1 thì T1 giơ hai tay lên đỡ dẫn đến bị K chém đứt lìa ngón tay út bàn tay trái và vết rách dài ở lòng bàn tay phải rồi bỏ chạy. Du nhặt được một chiếc cần câu, cầm bằng tay phải lao đến vụt K nhưng không trúng. K cầm dao đuổi chém một nhát trúng cẳng tay trái của D. Sau khi bị đánh D vừa chạy vừa liên tục chửi bới. G1 cầm điếu cày đuổi theo áp sát vụt nhiều nhát vào lưng, vai, đầu của D. V lao vào áp sát, dùng hai tay ôm quật D ngã xuống mặt sân để M1 lao vào đấm, đá nhiều nhát vào người và mặt D. Du vùng lên bỏ chạy thì K tiếp tục đuổi đánh D, Đ đến sân nhà thì bà H1 (mẹ đẻ của G1) ra can ngăn. Trần Tăng A vào can ngăn thì bị K dùng tay đấm trúng nhiều nhát vào vùng đầu còn G1 chạy vào phía sau nhà cầm trên hai tay 02 chiếc ghế bằng kim loại vừa đi vừa chửi bới, đuổi đánh nhóm của D. Sau đó, mọi người can ngăn và đưa T1, Đ, D, Tăng A đến bệnh viện cấp cứu và điều trị,

Ngày 27/4/2024, Nguyễn Kim K đến Công an huyện V đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 365/2024/KLTgTHS-TTPYHP ngày 16/5/2024 của Trung tâm P đối với thương tích của Nguyễn Đức T1: “Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức T1 qua hồ sơ là 20%. Trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương rách da lớn gan bàn tay phải gây nên là 03%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương đứt nhánh thần kinh trụ tại vết thương gan bàn tay phải gây nên là 11%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương cụt mất đốt 2,3 ngón V bàn tay trái gây nên là 05%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương rách da ngón IV bàn tay trái gây nên là 01%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do mẻ xương đốt 1 ngón IV bàn tay trái gây nên là 01%; Riêng tổn thương đứt cung mạch gan tay nông bàn tay phải mà không phải khâu nối thì không có hướng dẫn tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể; Tổn thương đứt gân gấp ngón IV bàn tay trái do giám định trên hồ sơ nên không có căn cứ đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Kết luận khác: Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên và nếu không được cấp cứu kịp thời thì cũng không ảnh hưởng đến tính mạng của nạn nhân”.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 334/2024/KLTgTHS-TTPYHP ngày 02/5/2024 của Trung tâm P đối với Phạm Thế D: “Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Thế D qua hồ sơ là 06%. Trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do chấn động não gây nên là 02%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương đầu vùng đỉnh phải gây nên là 01%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương cánh tay trái gây nên là 02%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy đầu xa đốt 3 ngón IV tay trái gây nên là 01%; Sưng tím phần mềm ô mô cái tay trái không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Vết thương đầu có đặc điểm do vật có góc cạnh cứng, có thể sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên. Vết thương cánh tay trái có đặc điểm do vật sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên. Sưng tím bàn tay trái có đặc điểm do vật tày, có thể có góc cạnh cứng tác động trực tiếp gây nên. Các thương tích trên nếu không được cấp cứu kịp thời thì cũng không ảnh hưởng đến tính mạng của nạn nhân”.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 335/2024/KLTgTHS-TTPYHP ngày 02/5/2024 của Trung tâm P đối với Nguyễn Đức Đ: “Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức Đ qua hồ sơ là 11%. Trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do chấn động não gây nên là 02%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương má trái gây nên là 09%. Chấn thương vùng đầu gây chấn động não có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên; Vết thương má trái có đặc điểm do vật sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên. Các thương tích trên nếu không được cấp cứu kịp thời thì cũng không ảnh hưởng đến tính mạng của nạn nhân”.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 336/2024/KLTgTHS-TTPYHP ngày 02/5/2024 của Trung tâm P đối với Trần Tăng A: “Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Tăng A do chấn động não gây nên qua hồ sơ là 02%. Chấn thương phần mềm đơn thuần vùng ngực-bụng không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Các thương tích trên do vật tày, có thể có góc cạnh cứng tác động trực tiếp gây nên. Các thương tích trên nếu không được cấp cứu kịp thời thì cũng không ảnh hưởng đến tính mạng của nạn nhân”.

Tại Kết luận giám định số 3074/KL-KTHS, ngày 28/5/2024 của V1 Bộ C2 đối với mẫu dấu vết màu nâu đỏ thu tại hiện trường có nội dung: “Dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu) ghi thu tại hiện trường gửi giám định là máu người và là máu của Nguyễn Đức T1. Lưu kiểu gen của Nguyễn Đức T1 (theo bộ K2) tại V1 Bộ C2”.

Tại Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 28/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V có nội dung: “01 Cốc thuỷ tinh có quai cầm tay, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 14/4/2024 là 35.000 đồng; 01 Cần câu bằng nhựa màu đen, loại 5 khúc, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 14/4/2024 là 300.000 đồng”.

Cơ quan điều tra đã thu giữ video ghi lại diễn biến sự việc xô xát hai bên và trưng cầu giám định. Kết luận giám định số 3090/KL-KTHS, ngày 22/5/2024 của V1 Bộ C2 đối với 01 file video liên quan đến vụ việc, có nội dung: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung trong file video mẫu cần giám định; đã trích xuất hình ảnh và mô tả 1 số hành động của các đối tượng trong file video mẫu cần giám định. Chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo” .

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Kim K, Đoàn Tiến G1, Phạm Thế D, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Đức Đ, Đoàn Tiến M1 và Nguyễn Minh V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 02/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố bị cáo Nguyễn Kim K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Phạm Thế D, Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Đức T1, Đoàn Tiến G1, Đoàn Tiến M1 và Nguyễn Minh V về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Kim K từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Phạm Thế D, Đoàn Tiến G1, Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Đức T1 mỗi bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; xử phạt các bị cáo Đoàn Tiến M1 và Nguyễn Minh V mỗi bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tôi Gây rối trật tự công cộng; về hình phạt bổ sung: Không; về trách nhiệm dân sự: Không; về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 số mảnh vỡ cốc thuỷ tinh có kích thước khác nhau, 01 quai điếu cày bằng kim loại sáng màu; 01 mẫu dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu); 01 cần câu bằng nhựa tối màu bị gãy; về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã suy nghĩ và thấy rằng hành vi của mình là sai trái và vi phạm pháp luật. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19h00, ngày 14/4/2024, tại khu vực quán B ở thôn A, xã H (N là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng. Do có mẫu thuẫn trong lúc uống rượu bia, Phạm Thế D dùng tay tát vào mặt Nguyễn Kim K dẫn đến việc D với K đấm đá, chửi nhau. Thấy vậy, Nguyễn Đức Đ cũng xông vào đánh K, K liền chạy vào bếp nấu ăn của quán nhà G1 lấy ra 02 con dao thì bị Đ nhặt cốc bia thủy tinh ném nhưng không trúng. K xông đến dùng dao chém vào vùng mặt bên trái của Đ, K tiếp tục dùng dao chém thì Đ nhặt ghế nhựa lên đỡ. Thấy Đ bị chém, Nguyễn Đức T1 cầm điếu cày xông vào đập K nhưng không trúng thì bị Đoàn Tiến G1 vào giằng lại điếu cày. K cầm dao lao vào chém T1 thì T1 giơ hai tay lên đỡ nên bị K chém đứt lìa ngón tay út bàn tay trái và bị thương ở lòng bàn tay phải, D nhặt được 01 chiếc cần câu lao đến vụt về phía K nhưng không trúng thì K dùng dao đuổi và chém trúng vào cẳng tay của D. Du bỏ chạy thì bị G1 cầm điếu cày đuổi theo áp sát vụt nhiều nhát về phía vùng lưng, đầu của D. M1 và V thấy G1 đánh D thì cũng lao vào đánh D. V áp sát, dùng hai tay ôm quật D ngã xuống mặt sân thì M1 lao vào đấm, đá nhiều cái vào mặt D, D vùng lên bỏ chạy, Trần Tăng A vào can ngăn thì bị K đấm trúng nhiều nhát vào đầu. Hậu quả Nguyễn Đức T1 bị tổn hại 20% sức khỏe, Nguyễn Đức Đ bị tổn hại 11% sức khỏe, Phạm Thế D bị tổn hại 06% sức khỏe, Trần Tăng A bị tổn hại 02% sức khỏe. Các bị cáo Nguyễn Kim K, Phạm Thế D, Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Đức T1, Đoàn Tiến M1, Đoàn Tiến G1 và Nguyễn Minh V đều đã trên 18 tuổi, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác, cuộc sống của các hộ dân, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Kim K phạm vào tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự; hành vi của các bị cáo Phạm Thế D, Nguyễn Đức T1, Đoàn Tiến G1, Đoàn Tiến M1, Nguyễn Minh V và Nguyễn Đức Đ phạm vào tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 02/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, xâm phạm trật tự quản lý công cộng, đồng thời gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời là bài học răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt:

[4.1] Đối với tội “Cố ý gây thương tích”: Bị cáo Nguyễn Kim K không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên bị xét xử theo điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

[4.2] Đối với tội “Gây rối trật tự công cộng”: Các bị cáo Phạm Thế D, Đoàn Tiến G1, Nguyễn Đức T1, Đoàn Tiến M1, Nguyễn Minh V và Nguyễn Đức Đ không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên bị xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Kim K, Phạm Thế D, Đoàn Tiến G1, Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Đức T1, Đoàn Tiến M1 và Nguyễn Minh V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[6] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo K sau khi phạm tội đã ra đầu thú, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo G1 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho T1, Đ, D, Tăng A; bố đẻ bị cáo D hiện đang thờ cúng 02 liệt sĩ là ông Phạm Thế C1, ông Phạm Thế K1; bị cáo Đ, T1 có bố đẻ là quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên các bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về nhân thân: Đối với bị cáo Nguyễn Kim K: Ngày 25/12/2020, Công an xã H, huyện V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPKLBB phạt Nguyễn Kim K 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, K nộp phạt ngày 30/12/2020 theo biên lai thu tiền phạt số 0007870 (đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính) và Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 01/QĐ-TA ngày 14/01/2021 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo đối với Nguyễn Kim K trong thời hạn là 12 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Kiên chấp hành xong quyết định ngày 03/11/2021 (đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính). Mặc dù 02 tiền sự này đã được xoá nhưng Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo K là người có nhân thân xấu. Đối với các bị cáo Phạm Thế D, Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Đức T1, Đoàn Tiến G1, Đoàn Tiến M1 và Nguyễn Minh V đều chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng.

[8] Về vai trò của các bị cáo: Vụ án tuy có nhiều đồng phạm tham gia song giữa các đồng phạm không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ khi thực hiện hành vi phạm tội nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, để có mức hình phạt chính xác, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử đánh vai trò của các bị cáo trong vụ án cụ thể như sau:

[8.1] Đối với tội Cố ý gây thương tích: Không có đồng phạm.

[8.2] Đối với tội Gây rối trật tự công cộng: Quá trình xảy ra vụ việc bị cáo Phạm Thế D dùng tay tát vào mặt Nguyễn Kim K dẫn đến việc D với K đấm đá, chửi nhau. Thấy vậy, Nguyễn Đức Đ cũng xông vào đánh K; Đ nhặt cốc bia thủy tinh ném K nhưng không trúng, Nguyễn Đức T1 cầm điếu cày xông vào đập K nhưng không trúng thì bị Đoàn Tiến G1 vào giằng lại điếu cày, D nhặt được 01 chiếc cần câu lao đến vụt về phía K nhưng không trúng thì K dùng dao đuổi và chém trúng vào cẳng tay của D, D bỏ chạy thì bị G1 cầm điếu cày đuổi theo áp sát vụt nhiều nhát về phía vùng lưng, đầu của D. M1 và V thấy G1 đánh D thì cũng lao vào đánh D. V áp sát, dùng hai tay ôm quật D ngã xuống mặt sân thì M1 lao vào đấm, đá nhiều cái vào mặt D. Do đó, Hội đồng xét xử đánh giá các bị cáo Phạm Thế D, Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Đức T1 và Đoàn Tiến G1 có vai trò ngang nhau và cao hơn các bị cáo Đoàn Tiến M1 và Nguyễn Minh V.

[9] Về hình phạt:

[9.1] Đối với tội Cố ý gây thương tích: Trên cơ sở đánh giá về nhân thân của bị cáo Nguyễn Kim K, Hội đồng xét xử thấy rằng tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội rất nghiêm trọng, có nhân thân xấu. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh và phòng chống tội phạm.

[9.2] Đối với tội Gây rối trật tự công cộng: Các bị cáo Phạm Thế D, Nguyễn Đức Đ, Đoàn Tiến G1, Nguyễn Đức T1, Đoàn Tiến M1 và Nguyễn Minh V đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo này được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục như đề nghị của Kiểm sát viên cũng đảm bảo tính giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[10] Về thiệt hại dân sự: Nguyễn Kim K và Đoàn Tiến G1 đã tự nguyện bồi thường cho Nguyễn Đức T1, Phạm Thế D, Nguyễn Đức Đ và Trần Tăng A tổng số tiền 90.000.000 đồng, T1, D, Đ, Tăng A và G1 không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét giải quyết.

[11] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 số mảnh vỡ cốc thuỷ tinh có kích thước khác nhau, 01 quai điếu cày bằng kim loại sáng màu; 01 mẫu dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu); 01 cần câu bằng nhựa tối màu bị gãy là công cụ, phương tiện phạm tội đến nay không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; đối với điếu cày và 02 con dao mà K dùng để chém T1, D, Đ, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

[12] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim K 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/10/2024.

  2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố các bị cáo Phạm Thế D, Nguyễn Đức Đ, Đoàn Tiến G1, Nguyễn Đức T1, Đoàn Tiến M1 và Nguyễn Minh V đồng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt:

    • - Bị cáo Phạm Thế D 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Bị cáo Đoàn Tiến G1 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Bị cáo Nguyễn Đức Đ 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Bị cáo Nguyễn Đức T1 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Bị cáo Đoàn Tiến M1 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Bị cáo Nguyễn Minh V 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao các bị cáo Phạm Thế D, Nguyễn Đức Đ, Đoàn Tiến G1, Nguyễn Đức T1, Đoàn Tiến M1 và Nguyễn Minh V cho Ủy ban nhân xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành ánh hình sự như sau:

    Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

    Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

    Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

    Căn cứ vào Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, huỷ bỏ biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đoàn Tiến G1 và biện pháp Bảo lĩnh đối với các bị cáo Phạm Thế D, Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Đức T1, Đoàn Tiến M1 và Nguyễn Minh V.

  3. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 số mảnh vỡ cốc thuỷ tinh có kích thước khác nhau, 01 quai điếu cày bằng kim loại sáng màu; 01 mẫu dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu); 01 cần câu bằng nhựa tối màu bị gãy là công cụ, phương tiện phạm tội đến nay không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ. Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2024 đã được bàn giao tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.
  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Kim K, Phạm Thế D, Nguyễn Đức Đ, Đoàn Tiến G1, Nguyễn Đức T1, Đoàn Tiến M1 và Nguyễn Minh V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm: Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Phòng kiểm tra hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Bảo;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo;
  • - UBND xã Vĩnh Hoà, huyện Vĩnh Bảo;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: Hành chính tư pháp, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Đức Vịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSST
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger