Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày 17 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lệ Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Kim Cảnh; Nghề nghiệp: Bí thư đoàn xã Tân Ninh, tỉnh Thanh Hóa.

2. Nguyễn Xuân Thu; Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát Khu vực 3 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2025/TLST-HS, ngày 31/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Vũ Bá H, sinh ngày 02 tháng 6 năm 2007.

    Số định danh cá nhân: 038207029463, cấp ngày 11/11/2021; nơi cấp: Cục C4 - Bộ C5.

    Nơi ĐKTT: Thôn A Đ, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐK tạm trú: Thôn P, xã D, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Bá T và bà Lê Thị L; gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ.

    Nhân thân: Ngày 29/8/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Ngày 12/11/2024 đã nộp xong tiền án phí.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2025 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam T, trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Ngô Minh H1, sinh ngày 05 tháng 3 năm 2009. Khi phạm tội 16 tuổi 4 tháng 7 ngày.

    Số định danh cá nhân: 038209030709, cấp ngày 07/3/2022; nơi cấp: Cục C4 - Bộ C5.

    Nơi ĐKTT: Thôn N, xã A, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Kim T1 và bà Lê Thị Đ; gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ hai;

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

  3. Phạm Đức A, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2007.

    Số định danh cá nhân: 038207015423, cấp ngày 02/11/2021; nơi cấp: Cục C4 - Bộ C5

    Nơi ĐKTT: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức T2 và bà Nguyễn Thị L1; bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/7/2025 đến ngày 24/7/2025 thay bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

  4. Nguyễn Duy C, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2007. Khi phạm tội 17 tuổi 6 tháng 16 ngày.

    Số định danh cá nhân: 038207012910, cấp ngày 01/5/2022; nơi cấp: Cục C4 - Bộ C5

    Nơi ĐKTT: Thôn D, xã A, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy H2 và bà Lê Thị S (bố mẹ đã ly hôn); gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

  5. Lê Đức Anh T3, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2009. Khi phạm tội 16 tuổi 5 tháng 22 ngày.

    Số định danh cá nhân: 038209001202, cấp ngày 01/3/2023; nơi cấp: Cục C4 - Bộ C5

    Nơi ĐKTT: Thôn N, xã A, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Doãn T4 và bà Nguyễn Thị T5; gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

  6. Hoàng Công H3, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2009. Khi phạm tội 16 tuổi 2 tháng 20 ngày.

    Số định danh cá nhân: 038209016031, cấp ngày 07/02/2022; nơi cấp: Cục C4 - Bộ C5

    Nơi ĐKTT: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trọng H4 và bà Nguyễn Thị O (bố mẹ đã ly hôn); gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ hai;

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

  7. Lường Khắc B, sinh ngày 14 tháng 4 năm 2009. Khi phạm tội 16 tuổi 2 tháng 28 ngày.

    Số định danh cá nhân: 038209029656; nơi cấp: Cục C4 - Bộ C5

    Nơi ĐKTT: Tổ dân phố A, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Khắc N và bà Lê Thị P; gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai;

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

  8. Lê Việt A1, sinh ngày 05 tháng 01 năm 2007.

    Số định danh cá nhân: 038207007697, cấp ngày 12/7/2021; nơi cấp: Cục C4 - Bộ C5

    Nơi ĐKTT: Thôn T, xã A, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình H5 và bà Lê Thị M; gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

  9. Lường Viết C1, sinh ngày 09 tháng 5 năm 2009. Khi phạm tội 16 tuổi 2 tháng 3 ngày.

    Số định danh cá nhân: 038209003400, cấp ngày 22/5/2023; nơi cấp: Cục C4 - Bộ C5.

    Nơi ĐKTT: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Viết C2 và bà Lê Thị H6; gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

“Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Viết S1, sinh ngày 13/10/2027. Vắng mặt

  2. Anh Trần Công T6, sinh ngày 19/12/2007. Vắng mặt

  3. Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1972. Vắng mặt

    đều có địa chỉ: Thôn T, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa.

  4. Vũ Bá M1, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2009. Có mặt

  5. Người đại diện hợp pháp, ông Vũ Bá T. Có mặt

    Địa chỉ: Thôn A Đ, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa.

  6. Ông Lê Văn L3, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn N, xã A, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt

  7. Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn N, xã A, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt

  8. Ông Lường Khắc N, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn N, xã A, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt

  9. Ông Hoàng Văn H7, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn N, xã A, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt

  10. Ông Lường Viết K, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn N, xã A, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt

  • Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Duy C, bà Lê Thị S, sinh năm 1972. Có mặt

  • Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Ngô Minh H1, bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1984. Có mặt

  • Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Đức Anh T3, bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1985. Có mặt

  • Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lường Khắc B, ông Lường Khắc N1, sinh năm 1983. Có mặt

  • Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hoàng Công H3, bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1986. Có mặt

  • Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lường Viết C3, ông Lường Viết C2, sinh năm 1957. Có mặt

  • Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Duy C: Bà Phan Thị N2. Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

  • Người bào chữa cho bị cáo Ngô Minh H1: Ông Đặng Văn Đ2. Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

  • Người bào chữa cho bị cáo Lê Đức Anh T3, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

  • Người bào chữa cho bị cáo Lường Khắc B, bà Hoàng Thị T7. Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

  • Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Công H3, Lê Thị L4, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

  • Người bào chữa cho bị cáo Lường Viết C1, ông Nguyễn Ngọc K1. Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 05 tháng 7 năm 2025, Nguyễn Minh T8 đi chơi cùng Vũ Bá M1 thì bị nhóm thanh niên lạ mặt đuổi đánh tại xã A, tỉnh Thanh Hóa. Sau đó, M1 và T8 kể lại với Ngô Minh H1 về việc bị đánh.

Tối ngày 11 tháng 7 năm 2025, nhóm thanh niên gồm Vũ Bá H, Vũ Bá M1, Nguyễn Minh T8, Ngô Minh H1, Lê Việt A1, Lê Đức Anh T3, Nguyễn Duy C đến nhà Đào Hữu M2, tại thôn D, xã A, tỉnh Thanh Hóa để bàn bạc thống nhất tối ngày 12 tháng 7 năm 2025 rủ thêm người rồi cùng nhau đi tìm nhóm đã đánh M2 và Minh T8 trước đó để trả thù.

Theo lịch hẹn, tối ngày 12/7/2025, nhóm của Vũ Bá M1 chuẩn bị dao, hung khí mang đi để đánh nhau gồm: Lê Gia H8 đến nhà Đào Hữu M2 lấy 3 con dao dựa cho Lê Đức Anh T3, Ngô Minh H1, Nguyễn Duy C mỗi người một dao rồi di chuyển đến địa điểm hẹn. Trong quá trình di chuyển đến điểm hẹn tại Công ty M3, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa; Lê Gia H8 bị xe mô tô do Hoàng Tuấn T9 đã đưa H8 về nhà không tham gia đi cùng nhóm. Trên đường đi, Ngô Minh H1 nhặt được hai vỏ chai bia đưa cho Lường Khắc B, Vũ Bá M1 mỗi người cầm một vỏ chai bia; Hoàng Công H3 và Nguyễn Minh T8 mỗi người cầm 01 nạo cao su của Công H3; Phạm Đức A mang theo 01 kích điện tự chế. Tại đây 15 đối tượng điều khiển 06 xe mô tô, trong đó Vũ Bá H điều khiển xe mô tô Exciter BKS: 36B5-846.69 màu trắng chở Vũ Bá M1 và Ngô Minh H1; Đào Hữu M2 điều khiển xe mô tô Wave Alpha BKS: 36AB-177.31 chở Hoàng Công H3 và Lê Đức Anh T3; Lê Việt A1 điều khiển xe mô tô Wave Alpha không gắn biển kiểm soát (biển số 36AB- 953.17) chở Nguyễn Minh T8; Hoàng Tuấn T9 điều khiển xe mô tô Wave Alpha BKS: 36C2-080.71 chở Vũ Đình Đ3 và Nguyễn Duy C; Lê Đình Tiến T10 điều khiển xe mô tô BKS: 36AB-556.10 chở Lường Khắc B, Lường Viết C1 điều khiển xe mô tô Wave Alpha BKS: 36B7-140.05 chở Phạm Đức A.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm tụ tập tại Công ty M3, sau đó xuất phát đi tìm nhóm thanh niên đã đánh mình. Khi đến đoạn quốc lộ D, thuộc địa phận thôn T, xã T thì gặp 04 thanh niên gồm anh Trần Viết S2, anh Trần Công T6, anh Trần Viết P1 và anh Nguyễn Tuấn A2, cùng trú tại phường Đ, tỉnh Thanh Hóa đang điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường. Nhận định đây là nhóm đã đánh mình trước đó, Vũ Bá M1 bảo Vũ Bá H điều khiển xe quay đầu theo, các đối tượng khác cũng tăng ga, hò hét, dùng dao dựa và nạo cao su đe dọa nhóm thanh niên trên, khi đuổi khoảng 600-700m, xe mô tô do Vũ Bá H điều khiển đi song song với xe của anh Trần Viết S1 thì Vũ Bá M1 dùng chân đạp vào xe của anh S1 khiến anh S1 và anh T6 ngã xuống đường. Sau đó, H tiếp tục điều khiển xe chạy lên phía trước khoảng 150m, Vũ Bá M1 ngồi sau dùng vỏ chai bia ném về phía nhóm thanh niên nhưng không trúng người nào, Ngô Minh H1 cầm dao đe dọa nhưng không chém trúng vào người. Khi anh S1 và anh T6 xuống đường, nhóm của H dừng lại hò hét, đe dọa, khiến hai người phải chạy xuống ruộng để trốn. Do người dân xung quanh phát hiện và can ngăn, nhóm của H bỏ đi khỏi hiện trường. Đến ngày 13 tháng 7 năm 2025, do lo sợ bị phát hiện nên Đào Hữu M2 chở Nguyễn Minh T8 mang theo 03 con dao vứt xuống sông thuộc xã Đ, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện trường nơi xảy ra vụ gây rối được xác định tại K đường Q thuộc địa phận thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa. Phía Bắc là hướng đi xã T, tỉnh Thanh Hóa; phía Nam là hướng đi xã T, tỉnh Thanh Hóa; phía Đông là đồng ruộng; phía Tây là khu dân cư thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa. Đoạn đường nhựa, bằng phẳng, không bị che khuất tầm nhìn, hai bên đường không có đèn đường chiếu sáng, chỉ có ánh đèn của nhà dân. Chiều rộng lòng đường 550cm, hai bên là lề đất, đường có vạch kẻ đứt đoạn chia thành hai làn riêng biệt.

Quá trình khám nghiệm hiện trường ghi nhận trên mặt đường nhiều vết cà trượt, dấu xe và mảnh nhựa vỡ nơi xe mô tô Vũ Bá H điều khiển bị đạp ngã.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 455, 456/KLLTCT-PYTH, ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh T, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Viết S1 tại thời điểm giám định là 10%; Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Công T6 tại thời điểm giám định là 06%.

Tại bản Kết luận giám định số 3613/KL-KTHS, ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T, kết luận: 01 vật có ký hiệu chữ nước ngoài (dạng chữ Trung Quốc), phần đầu không có dây cao su gửi giám định là nỏ (nạ), hiện không còn sử dụng bắn được, không thuộc vũ khí; 01 vật bằng kim loại màu đen có kí hiệu chữ nước ngoài (dạng chữ Trung Quốc), phần đầu gắn dây cao su màu vàng gửi đi giám định là nỏ (nạ) thuộc phụ lục 3 “Danh mục vũ khí thô sơ” ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ C5.

Tại bản Kết luận giám định số 3965/KL-KTHS ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 tệp video của 01 thẻ nhớ gửi giám định.

Ngày 15 tháng 7 năm 2025, Hoàng Công H3; Lường Viết C1; Phạm Đức A; Lê Đức Anh T3; Nguyễn Duy C; Ngô Minh H1; Lường Khắc B, Vũ Bá H, Lê Việt A1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để đầu thú và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Giấy tờ, vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 05 xe Wave Alpha; 01 xe Exciter, các xe đều đã qua sử dụng do các bị cáo giao nộp; 02 nả cao su dạng súng, màu đen, dài 60 cm, rộng 10 cm, có ống ngắm lazer; 01 chích điện tự chế; Đối với 03 con dao, 02 vỏ chai bia các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.

Phần dân sự: Quá trình điều tra, các bên liên quan không có yêu cầu về phần dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 05/CT.VKSKV3, ngày 31 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Thanh Hóa đã truy tố Vũ Bá Hoàng, Ngô Minh Hiếu, Lê Đức Anh Toàn, Nguyễn Duy C, Lê Việt A1, Phạm Đức A, Lường Viết C1, Lường Khắc B và Hoàng Công H3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn L3, ông Hoàng Văn H7, ông Lường Viết K, bà Nguyễn Thị T5 và ông Lường Khắc Nguyễn K2: Các đối tượng và các bị cáo đã tự ý lấy xe của gia đình đi khi chưa được sự đồng ý của gia đình và cũng không biết các bị cáo dùng xe làm phương tiện phạm tội. Do mô tô bị Cơ quan điều tra thu giữ là phương tiện đi lại của cả gia đình nên mong Hội đồng xét xử xem xét cho gia đình xin lại xe.

Người làm chứng có mặt và vắng mặt khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Vũ Bá H từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành 9 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 46/2024/HSST, ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình thành 9 tháng tù giam. Áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 2 bản án, đề nghị mức hình phạt bị cáo phải chấp hành từ 33 đến 39 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2025.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Đức A và Lê Việt A1. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Phạm Anh Đ4 và Lê Việt A1 từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 115, khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên, đối với Ngô Minh H1, Hoàng Công H3, Nguyễn Duy C, Lê Đức Anh T3, Lường Khắc B và Lường Viết C1. Đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo từ 13 đến 16 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 26 đến 32 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy 2 nả cao su dạng súng, 01 kích điện tự chế.

  • + Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô BKS 06AB – 953.17 đăng ký xe đứng tên Lê Việt A1.

  • + Trả lại xe mô tô BKS 36B5 – 846.69 của ông Lê Văn L3.

  • + Trả lại Xe mô tô BKS 36AB – 177.31 chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị T5.

  • + Trả lại Xe mô tô BKS 36B7 – 14005 chủ sở hữu là ông Lường Viết K.

  • + Trả lại Xe mô tô BKS 36C2 – 080.71 chủ sở hữu là ông Hoàng Văn H7

Những người bào chữa của bị cáo với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố các bị cáo Ngô Minh H1, Lê Đức Anh T3, Nguyễn Duy C, Lường Viết C1, Lường Khắc B và Hoàng Công H3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được tại tại địa phương để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

Các bị cáo Ngô Minh H1, Lê Đức Anh T3, Nguyễn Duy C, Lường Viết C1, Lường Khắc B và Hoàng Công H3 nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của những người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác.

Lời cuối cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hiện đều đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh S1, anh T6 và một số người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, đồng cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Xuất phát từ việc Vũ Bá M1 và Nguyễn Minh T8 bị nhóm thanh niên lạ mặt đuổi đánh vào tối ngày 05/7/2025, nên Vũ Bá M1, Nguyễn Minh T8 và Ngô Minh H1 khởi xướng bàn bạc tối ngày 12/7/2025 sẽ tìm nhóm thanh niên này để đánh trả thù. Khoảng 21 giờ 30, ngày 12 tháng 7 năm 2025, các bị cáo Vũ Bá H, Nguyễn Duy C, Ngô Minh H1, Lường Khắc B, Lường Viết C1, Hoàng Công H3, Lê Việt A1, Phạm Đức A và Lê Đức Anh T3 và một số đối tượng khác di chuyển trên Quốc lộ D theo hướng từ cầu T (thuộc xã T cũ) đi trung tâm xã T đoạn thuộc địa phận thôn T, xã T thì gặp nhóm thanh niên gồm: Anh Trần Viết S1 điều khiển xe mô tô chở theo anh Trần Công T6; anh Trần Viết P1 điều khiển xe mô tô chở theo anh Nguyễn Tuấn A2 đang đi theo hướng từ trung tâm xã T về phía Cầu T. Thấy nhóm thanh niên lạ mặt đi qua, do nghi ngờ đây là nhóm thanh niên có mâu thuẫn trước đó nên nhóm của Vũ Bá H quay xe lùa đuổi theo. Khi lùa đuổi các đối tượng tăng ga di chuyển, với tốc độ cao, hò hét, dùng dao và laze của nả cao su để đe dọa. Lùa đuổi được khoảng 600-700m thì xe mô tô của M1 đi song song với xe mô tô do anh Trần Viết S1 điều khiển, M1 dùng chân đạp vào xe mô tô làm anh S1 và anh T6 ngã xuống đường, nhóm của H dừng lại hò hét, đe dọa, khiến hai người phải chạy xuống ruộng để trốn. Khi người dân xung quanh đến can ngăn nên nhóm của Vũ Bá H dừng lại đi về nhà.

Bị cáo H cùng các bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự địa phương, đe dọa đến sự bình yên, cuộc sống sinh hoạt, làm động thương người của quần chúng nhân dân trên địa bàn nơi xảy ra sự việc, do đó cần xử các bị cáo mức án nghiêm theo quy định của pháp luật để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, vai trò của các bị cáo trong vụ án thuộc đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:

- Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Đối với bị cáo Vũ Bá H: Tại bản án số 46/2024/HSST, ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt Vũ Bá H 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời điểm phạm tội H chưa đủ 18 tuổi. Lần phạm tội này H đang còn trong thời gian thử thách của bản án số 46/2024/HSST nhưng H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; sau khi phạm tội các bị cáo Vũ Bá H, Nguyễn Duy C, Ngô Minh H1, Lường Khắc B, Lường Viết C1, Hoàng Công H3, Lê Việt A1, Phạm Đức A và Lê Đức Anh T3 đều đang an tỉnh T, tổ chức hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Lê Đức Anh T3 có nhân thân là người có công với đất nước (có ông nội, ông ngoại được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3); bị cáo Phạm Đức A là học sinh giỏi 12 năm học, được tặng nhiều giấy khen, bị cáo có ủng hộ cho địa phương xây nhà cho hộ nghèo được xã trưởng xác nhận, có thân nhân (ông bà nội) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến; bị cáo Ngô Minh H1 có thân nhân (bà nội) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo H có nhân thân xấu, ngày 29/8/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách 18 tháng. Lần phạm tội này đang trong thời gian thử thách của bản án treo, do đó áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, buộc bị cáo phải chấp hành 9 tháng tù cho hưởng án treo của bản án trước thành 9 tháng tù giam, áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt tù chung cho cả hai bản án và cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian và buộc bị cáo phải chấp mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Các bị cáo Nguyễn Duy C, Ngô Minh H1, Lường Khắc B, Lường Viết C1, Hoàng Công H3, Lê Việt A1, Phạm Đức A và Lê Đức Anh T3 trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; các bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Xét thấy, nếu không bắt các bị cáo này phải chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, các bị cáo Nguyễn Duy C, Ngô Minh H1, Lường Khắc B, Lường Viết C1, Hoàng Công H3 và Lê Đức A3 T3 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, tính thần và thể chất chưa được phát triển hoàn thiện, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, nên áp dụng Điều 115, Điều 119 và Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên để xử lý đối với bị cáo, do đó cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để cho các bị cáo Nguyễn Duy C, Ngô Minh H1, Lường Khắc B, Lường Viết C1, Hoàng Công H3, Lê Việt A1, Phạm Đức A và Lê Đức Anh T3 được cải tạo tại địa phương. Đây là cơ hội để các bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm.

[6] Về vật chứng, đồ vật trong vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy 2 nả cao su dạng súng, 01 kích điện tự chế.

  • - Bị cáo Lê Việt A1 sử dụng xe mô tô BKS 06AB – 953.17 đăng ký xe đứng tên Lê Việt A1 làm phương tiện phạm tội, do đó tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước.

  • - Đối với xe mô tô BKS 36B5 – 846.69 của ông Lê Văn L3; xe mô tô BKS 36AB – 177.31 chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị T5; xe mô tô BKS 36B7 – 14005 chủ sở hữu là ông Lường Viết K; xe mô tô BKS 36AB – 556.10 chủ sở hữu là ông Lường Khắc N; xe mô tô BKS 36C2 – 080.71 chủ sở hữu là ông Hoàng Văn H7. Do ông L3, bà T5, ông K, ông N và ông H7 không giao xe cho các bị cáo sử dụng, do các bị cáo tự ý lấy xe đi lúc nào chủ sở hữu không biết và cũng không biết các bị cáo sử dụng các đối tượng dùng xe vào mục đích tội. Cơ quan điều tra đã trả cứu dữ liệu xe tang vật không có dữ liệu tang vật, vật chứng nên trả lại cho các chủ sở hữu là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Viết S1 và anh Trần Công T6 bị thiệt hại về sức khỏe, không yêu cầu các bị cáo và các đối tượng bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét về phần dân sự.

[8] Về các vấn đề khác:

- Trong vụ án này, các đối tượng Đào Hữu M2, Vũ Bá M1, Nguyễn Minh T8, Hoàng Tuấn T9, Vũ Đình Đ3, Lê Đình Tiến T10 có hành vi tham gia gây rối trật tự công cộng nhưng thời điểm phạm tội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội danh đã phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T chuyển xử lý hành chính theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 5 Nghị định 120/2021/NĐ-CP ngày 24/12/2024 của Chính phủ là phù hợp.

- Đối với Lê Gia H8 có hành vi chuẩn bị hung khí và cùng tham gia đi đánh nhau nhưng trên đường đi bị ngã xe quay về không tham gia gây rối nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự mà áp dụng biện pháp răn đe, nhắc nhở là phù hợp.

- Đối với hành vi lùa đuổi và đạp vào xe đang di chuyển của M1 làm anh Trần Viết S1 ngã gây thương tích (anh Trần Công T6 tổn hại tổn hại 10% sức khỏe; anh Trần Viết S1 tổn hại 6% sức khỏe) của Vũ Bá H, Ngô Minh H1 và Vũ Bá M1. Anh Tôn và anh S1 có đơn đề nghị không xử lý hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T chuyển xử lý hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ là phù hợp.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T có văn bản đề nghị UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 của Chính phủ đối với các đối tượng Đào Hữu M2, Lường Viết C1, Hoàng Tuấn T9, Lê Đình Tiến T10 (chưa đủ tuổi), Vũ Bá H, Lê Việt A1 (chưa có giấy phép lái xe nhưng điều khiển xe mô tô không gắn biển số, không có gương chiếu hậu như theo người khác nhưng không đội mũ bảo hiểm; Đào Hữu M2, Hoàng Tuấn T9, Vũ Bá H về hành vi chở quá số người quy định; Vũ Bá M1, Lê Đức Anh T3, Lường Khắc B về hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Vũ Bá H, Ngô Minh H1, Lê Đức Anh T3, Nguyễn Duy C, Lê Việt A1, Phạm Đức A, Lường Viết C1, Lường Khắc B và Hoàng Công H3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Vũ Bá H: 26 (hai mươi sáu) tháng tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, buộc bị cáo phải chấp hành 9 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 46/2024/HSST, ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình thành 9 tháng tù giam.

Áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt của bản án số 46/2024/HSST, ngày 29/8/2024, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án: 35 (ba mươi lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2025.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Ngô Minh H1: 14 (mười bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Ngô Minh H1 cho Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Đức A: 24 (hai mươi tư) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Đức A cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C: 14 (mười bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Duy C cho Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Lê Đức Anh T3: 14 (mười bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Đức Anh T3 cho Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Hoàng Công H3: 14 (mười bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hoàng Công H3 cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Lường Khắc B: 14 (mười bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lường Khắc B cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Lê Việt A1: 24 (hai mươi tư) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Việt A1 cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Lường Viết C1 14 (mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lường Viết C1 cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao các bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã nơi các bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo có ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

* Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy 2 nả cao su dạng súng, 01 kích điện tự chế.

  • - Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô BKS 06AB – 953.17 đăng ký xe đứng tên Lê Việt A1

  • - Trả lại xe mô tô BKS 36B5 – 846.69 của ông Lê Văn L3;

  • - Trả lại xe mô tô BKS 36AB – 177.31 chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị T5, Trả lại Xe mô tô BKS 36B7 – 14005 chủ sở hữu là ông Lường Viết K.

  • - Trả lại Xe mô tô BKS 36AB – 556.10 chủ sở hữu là ông Lường Khắc N.

  • - Trả lại Xe mô tô BKS 36C2 – 080.71 chủ sở hữu là ông Hoàng Văn H7

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 09/BBVC – PTHADS, ngày 08 tháng 12 năm 2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 3).

* Về án phí: Áp dụng điều 135, 136, 333 BLTTHS; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa;
  • - Viện kiểm sát Khu vực 3;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam, Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lệ Thị Lan

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Bá Hoàng và Đp phạm tội'Gây rối trật tự công cộng"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger