Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày 16 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Đoàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tấn và bà Nguyễn Thị Huyền.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam, đối với bị cáo:

Trần Thị Bích Đ, sinh năm 1984;

nơi cư trú: Thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Công chức địa chính môi trường xã Đ đã bị tạm đình chỉ công tác ngày 10/02/2025; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Là đảng viên Đ2 đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 14/02/2025; con ông Trần Kim H và bà Trần Thị D; có chồng là Thiều Quang T3 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/02/2025 cho đến nay, có mặt.

Bị hại:

  • - Ông Trần Văn C, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Anh Trần Văn T, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Minh N, sinh năm 1985. Người đại diện theo uỷ quyền: Chị Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1987; đều cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Anh Trần Văn C, sinh năm 1979. Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Thị S, sinh năm 1960; đều cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Trần Thị S, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1962; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Bà Phạm Thị Đ1, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Anh Thiều Quang T3, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2012, thực hiện Kế hoạch dồn đổi ruộng đất nông nghiệp của UBND huyện L, tỉnh Hà Nam, UBND xã Đ đã thành lập Ban chỉ đạo dồn đổi ruộng đất nông nghiệp, đồng thời thành lập Tổ giúp việc cho Ban chỉ đạo. Tại các thôn, xóm của xã Đ cũng thành lập các Tiểu ban dồn đổi ruộng đất và tổ giúp việc để triển khai thực hiện việc dồn đổi ruộng đất nông nghiệp. Theo kế hoạch, Tiểu ban dồn đổi ruộng đất của các thôn, xóm rà soát, xây dựng phương án dồn đổi đất nông nghiệp của thôn, xóm mình quản lý để trình phương án cho Ban chỉ đạo của xã để xem xét, phê duyệt. Sau khi phương án được phê duyệt thì triển khai việc bàn giao ruộng đất nông nghiệp cho các hộ dân.

Thực hiện Kế hoạch dồn đổi ruộng đất nông nghiệp, từ năm 2013 đến năm 2015, tiểu ban dồn đổi ruộng đất nông nghiệp cùng tổ giúp việc của các xóm trong thôn H, xã Đ đã rà soát và xây dựng xong phương án dồn đổi ruộng đất nông nghiệp. Quá trình xây dựng phương án dồn đổi, tiểu ban dồn đổi ruộng đất nông nghiệp của các xóm trong thôn Hội động đã phối hợp với chi nhánh Công ty TNHH một thành viên T4 - Xí nghiệp trắc địa bản đồ 103 (viết tắt là Xí nghiệp trắc địa bản đồ 103) lập bản đồ dự kiến dồn đổi ruộng đất nông nghiệp của thôn H theo phương án đã xây dựng. Sau khi lập bản đồ, Xí nghiệp trắc địa bản đồ 103 đã bàn giao lại cho UBND xã Đ. Tuy nhiên, sau khi rà soát lại phương án phát hiện có một số hộ dân được cấp đất chưa đúng tiêu chuẩn nên phương án dồn đổi phải điều chỉnh và chưa được phê duyệt. Đến nay, việc dồn đổi ruộng đất nông nghiệp của thôn H, xã Đ vẫn chưa được thực hiện.

Năm 2015, Trần Thị Bích Đ là công chức địa chính môi trường xã Đ được phân công làm thành viên Ban chỉ đạo dồn đổi ruộng đất nông nghiệp xã Đ kiêm Tổ phó tổ giúp việc cho Ban chỉ đạo. Năm 2018, sau khi kiểm tra bản đồ dự kiến phương án dồn đổi ruộng đất nông nghiệp của thôn H, Đ thấy tại các tờ bản đồ số 4, 5, 6 có một số diện tích đất lúa (LUC) dự kiến còn thừa sau đồn đổi, gồm: Tại xứ đồng Bãi Trên thuộc tờ bản đồ số 4 còn thừa thửa đất có diện tích 503m², trên bản đồ ghi đất UB; tại xứ đồng Bái Đình thuộc tờ bản đồ số 5 còn thừa thửa đất diện tích 360m², trên bản đồ ghi đất UB; tại xứ đồng Cửa Kiếu thuộc tờ bản đồ số 6 còn thừa 02 thửa đất có diện tích lần lượt là 746m² và 616m², trên bản đồ ghi đất UB. Do cần tiền để tiêu xài vào mục đích cá nhân, Trần Thị Bích Đ đã đưa ra thông tin gian dối là có thể bán được các diện tích đất lúa còn thừa lại sau dồn đổi nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của những người có nhu cầu mua đất nên Đào chủ động thông tin với bà Trần Thị S, sinh năm 1960, trú tại thôn H, xã Đ về việc sau khi dồn đổi đất nông nghiệp tại thôn H sẽ còn thừa một số thửa đất tại các xứ đồng B, B, Cửa K, nếu ai có nhu cầu mua thì liên hệ với Đ. Tin tưởng thông tin Đ đưa ra là thật, bà S đã giới thiệu cho một số người thân của mình liên hệ Đ để mua lại các diện tích đất trên, cụ thể như sau:

Ngày 13/3/2018, anh Nguyễn Minh N, sinh năm 1985, trú tại thôn H, xã Đ, huyện L cùng bà S đến phòng làm việc của Đ, tại trụ sở UBND xã Đ, đưa cho Đ số tiền 40.000.000 đồng để mua 432m² đất nông nghiệp tại xứ đồng B. Sau khi nhận tiền của anh N, Đ viết giấy biên nhận tiền có nội dung: “Hôm nay, ngày 13/3/2018. Tên tôi là: Trần Thị Bích Đ, chức vụ: cán bộ địa chính xã Đ. Tôi có nhận số tiền 40.000.000 đồng để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp. Nếu không làm được tôi sẽ hoàn trả số tiền trên cho hộ ông Nguyễn Minh N”.

Sau khi được bà Trần Thị S giới thiệu anh Trần Văn C, sinh năm 1979; trú tại thôn H, xã Đ, huyện L đồng ý mua 540m² đất nông nghiệp tại xứ đồng Bãi Trên với số tiền 60.000.000 đồng. Anh C đã chuyển số tiền 60.000.000 đồng nhờ bà S đưa cho Đ để mua đất. Ngày 26/4/2018, bà S đến gặp Đ tại phòng làm việc ở trụ sở UBND xã Đ đưa cho Đ số tiền 60.000.000 đồng để mua đất cho anh C như đã thỏa thuận. Sau khi nhận tiền, Đ viết giấy biên nhận tiền của bà S có nội dung “Ngày 26/4/2018 tôi có nhận của bà S số tiền 60.000.000 đồng làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đất ngoài đồng xóm Ngoài”.

Tháng 4/2018 anh Trần Văn T, sinh năm 1971; trú tại thôn H, xã Đ, huyện L cùng bà S đến phòng làm việc của Đ, tại trụ sở UBND xã Đ, đưa cho Đ số tiền 70.000.000 đồng để mua 720m² tại xứ đồng C. Sau khi nhận tiền của anh T, Đ viết giấy biên nhận tiền có nội dung: “Tôi là: Trần Thị Bích Đ, chức vụ: Cán bộ địa chính xã Đ. Tôi có nhận số tiền 70.000.000 đồng để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu không làm được tôi sẽ hoàn trả số tiền trên (hộ ông Trần Văn T)”.

Anh Trần Văn C, sinh năm 1968; trú tại thôn H, xã Đ, huyện L được bà Trần Thị S giới thiệu, anh C đồng ý mua 180m² đất nông nghiệp tại xứ đồng Cửa Kiếu với số tiền 20.000.000 đồng, anh C đã chuyển số tiền 20.000.000 đồng nhờ bà S đưa cho Đ để mua đất. Ngày 22/5/2018 bà S đến gặp Đ tại phòng làm việc ở trụ sở UBND xã Đ đưa cho Đ số tiền 20.000.000 đồng để mua đất cho anh C; đồng thời đưa thêm 7.000.000 đồng để nhờ Đ nộp thuế làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nông nghiệp anh C đã mua của hộ dân khác. Sau khi nhận tiền, Đ đã viết giấy biên nhận tiền có nội dung “Hôm nay ngày 22/5/2018 tôi có nhận của bà S số tiền 27.000.000 đồng để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD đất. Nếu không làm được tôi hoàn trả số tiền trên”.

Do Trần Thị Bích Đ không giao đất, không hoàn trả lại số tiền đã nhận của các hộ dân như đã thỏa thuận nên tháng 12/2024, bà Trần Thị S, anh Trần Văn T, anh Nguyễn Minh N, anh Trần Văn C, sinh năm 1968 và anh Trần Văn C, sinh năm 1979 gửi đơn đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H để tố cáo Đ có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Anh Nguyễn Minh N giao nộp giấy biên nhận ghi ngày 13/3/2018 đề tên người nhận tiền là Trần Thị Bích Đ ký hiệu “A3”; anh Trần Văn T giao nộp giấy biên nhận đề tên người nhận tiền là Trần Thị Bích Đ ký hiệu “A4”; bà Trần Thị S giao nộp giấy biên nhận ngày 26/4/2018, 22/5/2018 đều đề tên người nhận tiền là Trần Thị Bích Đ ký hiệu “A9”, “A10”, đây là giấy biên nhận tiền do anh Trần Văn C, sinh năm 1968 và anh Trần Văn C, sinh năm 1979 nhờ bà S đưa tiền cho Đ.

Tại Kết luận giám định số 33/KL-KTHS ngày 09/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Chữ viết, chữ ký đứng tên Trần Thị Bích Đ trên mẫu cần giám định ký hiệu A3, A4, A9, A10 so với chữ viết, chữ ký của Trần Thị Bích Đ trên mẫu so sánh ký hiệu từ M1 - M7 do cùng một người viết, ký ra.

UBND xã Đ giao nộp: 03 file dữ liệu Autocad chứa dữ liệu là tờ bản đồ số 4, tờ bản đồ số 5 và tờ bản đồ số 6 trên hệ thống bản đồ địa chính theo phương án dồn đổi ruộng đất của xã Đ được copy vào 01 USB màu trắng nhãn hiệu TOSHIBA 16GB được niêm phong trong bì ký hiệu “H”.

Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Lệnh bắt bị can để tạm giam, Lệnh khám xét chỗ ở, nơi làm việc đối với Trần Thị Bích Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Quá trình khám xét nơi làm việc của Trần Thị Bích Đ thu giữ 01 cây máy tính vỏ màu đen, trên cây máy tính có ghi dòng chữ COOLERPLUS đã qua sử dụng, được niêm phong trong thùng cattong ký hiệu “MT1”; 01 sổ tay KT (15,3x10,8)cm, bìa cứng màu đen, góc bên phải mặt trước của sổ có dòng chữ KL4-160T, bên trong sổ ở trang đầu tiên có nội dung; Phương án dồn đổi đất nông nghiệp xóm Giữa thôn Hội Động tháng 5, 9/2014; Phương án dồn đổi đất nông nghiệp xóm Ngoài thôn Hội Động tháng 11/2014; Phương án dồn đổi đất nông nghiệp thôn H tháng 3/2021.

Trần Thị Bích Đ giao nộp số tiền 612.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh nhạt, số IMEI1 867528072630611, IMEI2 867528072630603, bên trong lắp 02 thẻ sim có các số thuê bao 0985.689.126 và số 0914.534.815 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT1”.

Khai thác dữ liệu điện thoại do Đ giao nộp và máy tính đã thu giữ tại nơi làm việc của Đ không phát hiện có nội dung liên quan đến vụ án. Đối với điện thoại di động, sau khi khai thác được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KT1”.

Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Đối với 01 cây máy tính vỏ màu đen, trên cây máy tính có ghi dòng chữ COOLERPLUS là tài sản của UBND xã Đ giao cho Trần Thị Bích Đ làm việc, quá trình khai thác xác định không có nội dung liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho UBND xã Đ.

Đối với số tiền 612.000.000 đồng do Đ giao nộp để khắc phục hậu quả, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Trần Văn T số tiền 70.000.000 đồng; đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Minh N là bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1987, trú tại thôn H, xã Đ, huyện L số tiền 40.000.000 đồng; ông Trần Văn C, sinh năm 1968 số tiền 20.000.000 đồng; bà Trần Thị S số tiền 60.000.000 đồng (bà S là đại diện theo ủy quyền của anh Trần Văn C, sinh năm 1979); ông Thiều Quang T3, sinh năm 1982, trú tại thôn Q, xã V, huyện L (chồng của bị can Đ) số tiền 422.000.000 đồng.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động do Trần Thị Bích Đ giao nộp hiện được bảo quản để phục vụ công tác xét xử.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã nhận lại đủ số tiền đã bị chiếm đoạt và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Trần Thị Bích Đ.

Tại bản cáo trạng số 43/CT - VKSHN – P2 ngày 15/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Trần Thị Bích Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Bích Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c, đ khoản 2, khoản 5 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị Bích Đ từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo Trần Thị Bích Đ từ 10 (mười) triệu đồng đến 20 (hai mươi) triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn nghề nghị về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị Bích Đ nhất trí với quan điểm của đại Viện kiểm sát tỉnh Hà Nam, không tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa vắng mặt một số người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Thị Bích Đ là công chức địa chính môi trường xã Đ và là thành viên kiêm Tổ phó tổ giúp việc cho Ban chỉ đạo dồn đổi ruộng đất nông nghiệp của UBND xã Đ, huyện L nên Đ biết được thông tin tại các tờ bản đồ số 4, 5, 6 do Xí nghiệp trắc địa bản đồ 103 lập, giao lại cho UBND xã Đ để thực hiện việc dồn đổi có một số diện tích đất lúa (LUC) dự kiến còn thừa sau đồn đổi ký hiệu đất UB. Trần Thị Bích Đ biết rõ việc dồn đổi đất nông nghiệp của thôn H, xã Đ chưa được phê duyệt và chưa thực hiện được, nhưng do cần tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân, Đ đã đưa ra thông tin gian dối với bà Trần Thị S là sau khi dồn đổi ruộng đất nông nghiệp tại thôn H còn thừa một số thửa đất tại các xứ đồng B, B, Cửa K, nếu ai có nhu cầu mua thì liên hệ với Đ để Đ bán cho. Do tin tưởng thông tin mà Đ đưa ra là thật, bà Trần Thị S đã giới thiệu anh Trần Văn C, sinh năm 1979. Sau đó anh C đã chuyển số tiền 60.000.000 đồng vào tài khoản của bà S nhờ bà S đưa cho Đ để mua 540m² đất nông nghiệp tại xứ đồng B; anh Trần Văn T đưa cho Đ 70.000.000 đồng để mua 720m² đất nông nghiệp tại xứ đồng C; anh Nguyễn Minh N đưa cho Đ 40.000.000 đồng để mua 432m² đất nông nghiệp tại xứ đồng B; anh Trần Văn C, sinh năm 1968 đưa cho Đ số tiền 20.000.000 đồng để mua 180m² đất nông nghiệp tại xứ đồng C. Tổng số tiền Đ chiếm đoạt của anh T, anh N, anh Trần Văn C, sinh năm 1979 và Trần Văn C, sinh năm 1968 là 190.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Thị Bích Đ đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c, đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội danh như trên là đúng người, đúng tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị Bích Đ phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo Trần Thị Bích Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện trả lại toàn bộ số tiền chiếm đoạt của các bị hại, những người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, UBND xã Đ có báo cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Bị cáo Trần Thị Bích Đ phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt; bản thân không có tiền án, tiền sự; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh nhạt, số IMEI1: 867528072630611, số IMEI2: 867528072630603, bên trong lắp 02 thẻ sim có các số thuê bao 0985.689.126 và số 0914.534.815 không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí: Bị cáo Trần Thị Bích Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Về các vấn đề khác:

- Đối với số tiền 527.000.000 đồng Trần Thị Bích Đ nhận của một số hộ dân đều trú tại thôn H, xã Đ như sau: Năm 2020, Đ nhận 110.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1991; năm 2020, Đ nhận 60.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1962; từ năm 2017 đến năm 2022, Đ nhận của bà Trần Thị S tổng số tiền 232.000.000 đồng; năm 2017, Đ nhận 80.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn T2; năm 2019, Đ nhận số tiền 35.000.000 đồng của bà Phạm Thị Đ1. Quá trình điều tra xác định, số tiền trên là do các hộ dân tự nguyện, chủ động đưa cho Đ để giúp các hộ này nộp các khoản thuế, phí theo quy định của Nhà nước khi làm các thủ tục sang tên, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật; bản thân Đ không có hành vi gian dối để những người này chuyển tiền và chiếm đoạt của họ do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không xử lý Trần Thị Bích Đ là có căn cứ.

Đối với bà Trần Thị S do tin tưởng thông tin Đ đưa ra là thật nên đã giới thiệu người thân đưa tiền cho Đ để mua đất nông nghiệp dư thừa sau dồn đổi, bản thân bà S không được hưởng lợi ích vật chất gì từ việc này nên bà S không đồng phạm với TrầnThị Bích Đ về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c, đ khoản 2 và khoản 5 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hình phạt chính: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Bích Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Bích Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/02/2025.
  2. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Trần Thị Bích Đ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Trần Thị Bích Đ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh nhạt, số IMEI1: 867528072630611, số IMEI2: 867528072630603, bên trong lắp 02 thẻ sim có các số thuê bao 0985.689.126 và số 0914.534.815 nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thị Bích Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, Tòa hình sự, Bộ phận HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Công Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Thị Bích Đ là công chức địa chính môi trường xã Đ và là thành viên kiêm Tổ phó tổ giúp việc cho Ban chỉ đạo dồn đổi ruộng đất nông nghiệp của UBND xã Đ, huyện L nên Đ biết được thông tin tại các tờ bản đồ số 4, 5, 6 do Xí nghiệp trắc địa bản đồ 103 lập, giao lại cho UBND xã Đ để thực hiện việc dồn đổi có một số diện tích đất lúa (LUC) dự kiến còn thừa sau đồn đổi ký hiệu đất UB. Trần Thị Bích Đ biết rõ việc dồn đổi đất nông nghiệp của thôn H, xã Đ chưa được phê duyệt và chưa thực hiện được, nhưng do cần tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân, Đ đã đưa ra thông tin gian dối với bà Trần Thị S là sau khi dồn đổi ruộng đất nông nghiệp tại thôn H còn thừa một số thửa đất tại các xứ đồng B, B, Cửa K, nếu ai có nhu cầu mua thì liên hệ với Đ để Đ bán cho. Do tin tưởng thông tin mà Đ đưa ra là thật, bà Trần Thị S đã giới thiệu anh Trần Văn C, sinh năm 1979. Sau đó anh C đã chuyển số tiền 60.000.000 đồng vào tài khoản của bà S nhờ bà S đưa cho Đ để mua 540m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng B; anh Trần Văn T đưa cho Đ 70.000.000 đồng để mua 720m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng C; anh Nguyễn Minh N đưa cho Đ 40.000.000 đồng để mua 432m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng B; anh Trần Văn C, sinh năm 1968 đưa cho Đ số tiền 20.000.000 đồng để mua 180m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng C. Tổng số tiền Đ chiếm đoạt của anh T, anh N, anh Trần Văn C, sinh năm 1979 và Trần Văn C, sinh năm 1968 là 190.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger