Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUYÊN MỘC

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày 16-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Quốc Thanh.

Ông Hà Danh Vượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Nhân – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/HSST-QĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị N, sinh ngày 29/10/1986, tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Địa chỉ: Tổ I, thôn S, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: bán vé số; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R và bà Lê Thị L; có chồng là ông Nguyễn Bảo H (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  2. Huỳnh Thị L1, sinh ngày 10/12/1997, tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: bán vé số; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn S và bà Nguyễn Thị L2; có chồng là ông Nguyễn Văn H1; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Thị Q, sinh ngày 01/1/1988, tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: bán vé số; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; có chồng là Phan Ngọc T2 (đã ly hôn) và 02 con; con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quang T3, sinh năm 1965; Trú tại: ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 07/04/2024, tại điểm bán vé số của Đại lý vé số “H" địa chỉ ấp T, xã B, huyện X. Công an huyện X phối hợp với Công an xã B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Huỳnh Thị L1 đang có hành vi ghi số đề “Đầu đuôi” số 274 và 427 theo kết quả xổ số của Công ty X, Kiên Giang và Đ, số tiền 2.000 đồng mỗi số/01 đài cho ông Trần Quang T3, tổng số tiền đánh bạc là 24.000 đồng. Tạm giữ 38 phơi đề L1 ghi cho các con bạc, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y72 5G (bên trong có 02 sim điện thoại) và 7.310.000 đồng tiền mặt.

Thời điểm bắt quả tang, L1 khai còn có Nguyễn Thị Q ghi số đề cho các con bạc tại điểm bán vé số tại ấp T, xã B nên lực lượng công an đến kiểm tra, làm việc đồng thời tạm giữ của Q 32 tờ phơi đề ghi cho các con bạc, trong đó có 26 tờ phơi đã chuyển cho L1 qua tin nhắn của ứng dụng Zalo. Qua làm việc ban đầu cả hai đều khai được Nguyễn Thị N thuê bán vé số cho Đại lý vé số H2 (do N làm chủ), sau đó rủ rê L1 và Q ghi số đề cho các con bạc để chuyển cho N và trả lương mỗi người 6.000.000₫ (sáu triệu đồng)/tháng.

Ngày 12/4/2024 Nguyễn Thị N đến Công an đầu thú về hành vi của mình. Tại cơ quan điều tra N, L1, Q khai nhận hành vi của mình như sau:

Khoảng tháng 01/2024, N thuê L1 bán vé số cho Đại lý vé số H2 (do N làm chủ) tại quầy vé số địa chỉ ấp T, xã B, huyện X và trả lương 6.000.000 đồng/01 tháng, đến tháng 03/2024, N tiếp tục thuê Q bán vé số tại quầy vé số thuộc ấp T, xã B với mức tiền thuê như trên, cả L1 và Q đều đồng ý.

Ngày 06/04/2024, N nảy sinh ý định tổ chức ghi số đề cho những người đến mua vé số và các con bạc khác nên rủ L1 và Q cùng tham gia ghi số đề cho các con bạc tại 02 tụ điểm trên, đồng thời thoả thuận hàng ngày sau khi L1 và Q ghi đề Q sẽ chụp hình phơi đề gửi cho L1 qua tin nhắn ứng dụng Zalo, L1 có nhiệm vụ tổng hợp phơi đề của Q cùng với phơi đề của L1 ghi cho các con bạc gửi vào nhóm của tin nhắn Z do N lập ra. Sau khi có kết quả xổ số, N căn cứ vào kết quả mở thưởng của Công ty X để dò kết quả, tính tiên thắng thua và chuyển cho L1 và Q để chi trả cho các con bạc. N trực tiếp đứng ra nhận phơi đề và không chuyển lại cho người khác, nếu các con bạc thua thì Quang chuyển lại số tiền ghi đề của các con bạc cho L1 để L1 chuyển cho N, nếu con bạc thắng bạc vượt quá số tiền ghi được từ phơi đề thì N sẽ trực tiếp trả tiền cho các con bạc thông qua L1.

Về hình thức đánh bạc: Đánh bạc dưới hình thức mua bán lô đề với hình thức cá cược được quy ước là kết quả mở thưởng của các nhà đài sổ số miền N1 và miền T mở thưởng lúc 16 giờ 30 phút hàng ngày, miền B là 18 giờ hàng ngày. Đầu đuôi là căn cứ vào 02 số thuộc giải tám và 02 số cuối của giải đặc biệt, tỷ lệ thắng thua là 1.000 đồng được 70.000 đồng; Xỉu chủ đầu đuôi là căn cứ vào 03 số thuộc giải bảy và 03 con số cuối của giải đặc biệt, tỷ lệ thắng thua là 1.000 đồng được 620.000 đồng; Bao lô 02 con là căn cứ vào 02 số thuộc giải tám đến 02 số cuối của giải đặc biệt (18 lô), tỷ lệ thắng thua là 1.000 đồng được 70.000 đồng; Bao lô 03 con hay còn gọi là bao lô xỉu chủ là căn cứ vào 03 số cuối thuộc giải bảy đến 03 số cuối của giải đặc biệt (17 lô), tỷ lệ thắng thua là 1.000 đồng được 620.000 đồng; Số đá hoặc số đá xiên 02 con là căn cứ vào 02 số cuối thuộc giải tám đến 02 số cuối của giải đặc biệt (18 lô), nếu có 02 con số này trong 18 lô của cùng 01 đài hoặc có thể mua 02 đài thì người chơi trúng thưởng, tỷ lệ thắng thua là 1.000 đồng được 520.000 đồng.

Ngày 07/04/2024, Q ghi đề cho các con bạc trên 32 phơi đề rồi chụp 26 phơi đề đài miền N gửi cho L1 (còn lại 02 phơi đài miền N và 04 phơi ghi tổng số lô đề đài miền B, Q chưa kịp gửi thì bị phát hiện), L1 tổng hợp với 35 phơi đề của mình ghi cho các con bạc chuyển qua cho N (còn 01 phơi đề đài miền B và 01 phơi đề ghi cho ông T3, L1 chưa kịp gửi thì bị phát hiện), tổng cộng L1 chuyển cho Nhẹ 61 phơi đề ghi số lô đề đài miền N và miền T, còn 08 phơi đề chưa kịp chuyển nhưng đã thông báo trước số tiền cho N. Thời điểm Cơ quan công an phát hiện, bắt quả tang Công ty X chưa mở thưởng nên các con bạc chưa tính tiền thắng – thua, cụ thể: Từ 07 giờ 30 phút đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, L1 ghi số lô đề cho 37 con bạc (không rõ lai lịch) với tổng số 35 phơi đề đài miền N gồm Tiền Giang (ký hiệu TG), Kiên Giang (ký hiệu KG), Đ (ký hiệu ĐL), 01 phơi đề đài miền T gồm K (ký hiệu KT), Huế (ký hiệu H) và 01 phơi đề đài miền B (ký hiệu MB). Trên mỗi phơi đề in số tờ phơi từ 019968 đến số 020004, các con bạc tham gia mua nhiều số lô (Ký hiệu L), số đề đầu đuôi (ĐĐ), số xỉu chủ (XC), số đá (Đá), đá xiên (ĐX). Trong đó, số tiền con bạc thứ nhất đánh bạc theo tờ phơi số 019968 đài Tiền Giang, Kiên Giang, Lâm Đồng là 630.000 đồng, số tiền con bạc thứ hai đánh bạc theo tờ phơi số 019969 đài Tiền Giang, Kiên Giang là 560.000 đồng, con bạc thứ ba đánh bạc theo tờ phơi số 019970 đài Tiền Giang là 327.000 đồng, con bạc thứ tư đánh bạc theo tờ phơi số 019971 đài Tiền Giang là 24.000 đồng, con bạc thứ năm đánh bạc theo tờ phơi số 019972 đài Tiền Giang là 3.600.000 đồng, con bạc thứ sáu đánh bạc theo tờ phơi số 019973 đài Tiền Giang, Kiên Giang là 720.000 đồng, con bạc thứ bảy đánh bạc theo tờ phơi số 019974 đài Tiền Giang là 187.000đ, con bạc thứ tám đánh bạc theo tờ phơi số 019975 đài Tiền Giang là 172.000 con bạc thứ chín đánh bạc theo tờ phơi số 019976 đài Tiền Giang là 320.000đ, con bạc thứ mười đánh bạc theo tờ phơi số 019977 đài Tiền Giang là 564.000đ, con bạc thứ 11 đánh bạc theo tờ phơi số số 019978 đài Tiền Giang, Kiên Giang là 576.000 đồng, B1 là 270.000 đồng, G là 116.000 đồng, con bạc thứ 12 đánh bạc theo tờ phơi số 019979 đài Miền Bắc là 270.000đ, con bạc thứ 13 đánh bạc theo tờ phơi số 019980 đài Tiền Giang là 116.000đ, con bạc thứ 14 đánh bạc theo tờ phơi số 019981 đài Huế, K tum là 360.000 đồng, con bạc thứ 15 đánh bạc theo tờ phơi số 019982 đài Tiền Giang là 350.000 đồng, con bạc thứ 16 đánh bạc theo tờ phơi số 019983 đài Tiền Giang là 16.000 đồng, con bạc thứ 17 đánh bạc theo tờ phơi số 019984 đài Tiền Giang là 24.000 đồng, con bạc thứ 18 đánh bạc theo tờ phơi số 019985 đài Tiền Giang là 180.000 đồng, con bạc thứ 19 đánh bạc theo tờ phơi số 019986 đài Tiền Giang, Kiên Giang là 648.000 đồng, con bạc thứ 20 đánh bạc theo tờ phơi số 019987 đài Tiền Giang, Kiên Giang là 792.000 đồng, con bạc thứ 21 đánh bạc theo tờ phơi số 019988 đài Tiền Giang là 180.000 đồng, con bạc thứ 22 đánh bạc theo tờ phơi số 019989 đài Tiền Giang là 84.000 đồng, con bạc thứ 23 đánh bạc theo tờ phơi số 019990 đài Tiền Giang là 36.000 đồng, con bạc thứ 24 đánh bạc theo tờ phơi số 019991 đài Tiền Giang, Kiên Giang, Lâm Đồng là 414.000 đồng, con bạc thứ 25 đánh bạc theo tờ phơi số 019992 đài Tiền Giang là 180.000 đồng, con bạc thứ 26 đánh bạc theo tờ phơi số 019993 đài Tiền Giang là 84.000 đồng, con bạc thứ 27 đánh bạc theo tờ phơi số 019994 đài Tiền Giang, Kiên Giang, Lâm Đồng là 720.000 đồng, con bạc thứ 28 đánh bạc theo tờ phơi số 019995 đài Tiền Giang là 24.000 đồng, con bạc thứ 29 đánh bạc theo tờ phơi số 019996 đài Tiền Giang là 170.000 đồng, con bạc thứ 30 đánh bạc theo tờ phơi số 019997 đài Tiền Giang là 250.000 đồng, con bạc thứ 31 đánh bạc theo tờ phơi số 019998 đài Tiền Giang là 216.000 đồng, con bạc thứ 32 đánh bạc theo tờ phơi số 019999 đài Tiền Giang là 24.000 đồng, con bạc thứ 33 đánh bạc theo tờ phơi số 020000 đài Tiền Giang là 164.000 đồng, con bạc thứ 34 đánh bạc theo tờ phơi số 020001 đài Tiền Giang là 360.000 đồng, con bạc thứ 35 đánh bạc theo tờ phơi số 020002 đài Tiền Giang là 100.000 đồng, con bạc thứ 36 đánh bạc theo tờ phơi số 020003 đài Tiền Giang là 144.000 đồng, con bạc thứ 37 đánh bạc theo tờ phơi số 020004 đài Tiền Giang, Kiên Giang, Lâm Đồng là 24.000 đồng.

Tổng số tiền L1 đứng ra giúp Nhẹ tổ chức cho 37 con bạc tham gia đánh bạc trên 37 tờ phơi đề, sau đó chuyển cho N là 13.610.000 đồng (miền N là 12.980.000 đồng, miền T là 360.000 đồng, miền B là 270.000 đồng).

Q ghi số đề cho 28 con bạc (không rõ lai lịch) trên tổng số 32 phơi đề (28 phơi đề ghi số lô đề đài miền N và 04 phơi đề ghi số lô đề đài miền B, có 28 con bạc mua lô đề đài miền N, 12 con bạc trong số 28 con bạc mua lô đề đài miền B được Q ghi tổng hợp trên 04 phơi đề). Trên mỗi phơi đề in số tờ phơi từ 016153 đến số A. Trong đó, số tiền con bạc thứ nhất đánh bạc theo tờ phơi số 016153 đài Tiền Giang là 186.000 đồng, con bạc thứ hai đánh bạc theo tờ phơi số 016154 đài Tiền Giang là 286.000 đồng, con bạc thứ ba đánh bạc theo tờ phơi số 016155 đài Tiền Giang là 72.000 đồng, con bạc thứ tư đánh bạc theo tờ phơi số 016156 đài Tiền Giang là 126.000đ, con bạc thứ năm đánh bạc theo tờ phơi số 016157 đài Tiền Giang là 200.000 đồng, con bạc thứ sáu đánh bạc theo tờ phơi số 016158 đài Tiền Giang, Tiền Giang, Kiên Giang, Đ là 108.000 đồng, con bạc thứ bảy đánh bạc theo tờ phơi số 016159 đài Tiền Giang là 252.000 đồng, con bạc thứ tám đánh bạc theo tờ phơi số 016160 đài Tiền Giang là 600.000 đồng, con bạc thứ chín đánh bạc theo tờ phơi số 016161 đài Tiền Giang, Kiên Giang là 144.000 đồng, con bạc thứ 10 đánh bạc theo tờ phơi số 016162 đài Tiền Giang là 3.600.000 đồng, con bạc thứ 11 đánh bạc theo tờ phơi số 016164, đài Tiền Giang là 62.000 đồng, con bạc thứ 12 đánh bạc theo tờ phơi số 016165, đài Tiền Giang là 150.000 đồng, con bạc thứ 13 đánh bạc theo tờ phơi số 016166, đài Tiền Giang là 2.120.000 đồng, con bạc thứ 14 đánh bạc theo tờ phơi số 016170, đài Tiền Giang là 352.000 đồng, con bạc thứ 15 đánh bạc theo tờ phơi số 016171, đài Tiền Giang là 270.000 đồng, con bạc thứ 16 đánh bạc theo tờ phơi số 016172, đài Tiền Giang là 30.000 đồng, con bạc thứ 17 đánh bạc theo tờ phơi số 016173, đài Tiền Giang là 24.000 đồng, con bạc thứ 18 đánh bạc theo tờ phơi số 016174, đài Tiền Giang là 60.000 đồng, con bạc thứ 19 đánh bạc theo tờ phơi số 016175, đài Tiền Giang là 150.000 đồng, con bạc thứ 20 đánh bạc theo tờ phơi số 016176, đài Tiền Giang là 180.000 đồng, con bạc thứ 21 đánh bạc theo tờ phơi số 016177, đài Tiền Giang là 156.000 đồng, con bạc thứ 22 đánh bạc theo tờ phơi số 016178, đài Đ là 72.000 đồng, con bạc thứ 23 đánh bạc theo tờ phơi số 016179, đài Tiền Giang, Kiên Giang là 856.000 đồng, con bạc thứ 24 đánh bạc theo tờ phơi số 016180, đài Tiền Giang, Kiên Giang là 428.000 đồng, con bạc thứ 25 đánh bạc theo tờ phơi số 016181 đài Tiền Giang là 316.000 đồng, con bạc thứ 26 đánh bạc theo tờ phơi số 016182 đài Tiền Giang, Kiên Giang là 216.000 đồng, con bạc thứ 27 đánh bạc theo tờ phơi số 016183 đài Tiền Giang là 320.000 đồng, con bạc thứ 28 đánh bạc theo tờ phơi số 016184 đài Tiền Giang, Kiên Giang là 324.000 đồng.

Ngoài ra, có 12 con bạc trong số 28 con bạc tham gia đánh bạc đài miền N còn mua số lô đề đài miền B, được Q ghi tổng hợp trên 04 tờ phơi đề gồm: phơi đề số 016163 số tiền là 270.000 đồng, phơi đề số 016167 là 6.075.000 đồng, phơi đề số 016168 là 2.430.000 đồng và phơi đề số 016169 là 1.610.000 đồng.

Tổng số tiền Q đứng ra giúp Nhẹ tổ chức cho 28 con bạc tham gia đánh bạc đánh bạc là 22.045.000 đồng (đài miền N là 11.660.000 đồng, miền B là 10.385.000 đồng).

Kết luận giám định số 5160/KL-KTHS ngày 09/09/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP ., kết luận: không phục hồi được, không tìm thấy dữ liệu có thời gian hiển thị từ tháng 11 năm 2023 đến ngày 07/04/2024 lưu trong 03 điện thoại gửi giám định (Ký hiệu từ A1 đến A3).

Vật chứng thu giữ và xử lý:

Tạm giữ của Huỳnh Thị L1: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y72 5G, số IMEI1: 863206057785197, số IMEI2: 863206057785189; 01 sim số: 0989578065; 01 sim số: 0396435210; 7.310.000 đồng (Trong đó 300.000 đồng là tiền bán vé số, còn 7.010.000 đồng là tiền ghi đề );

Tạm giữ của Nguyên Thị Q1: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04c, màu bạc, số IMEI1: 351778730741143, số IMEI2: 354844580741141; 01 sim số: 0979062932; 01 Máy tính hiệu Casio MX-128; 8.050.000 đồng (700.000 đồng là tiền bán vé số, còn 7.350.000 đồng là ghi đề);

Tạm giữ của Nguyễn Thị N: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, số kiểu máy V2027, màu xanh, số IMEI1: 862310051808517, số IMEI2: 862310051 808509; 01 sim điện thoại số: 0347.796.xxx. Hiện các vật chứng trên đang tạm giữ để chuyến Chi cục THA Dân sự huyện Xuyên Mộc;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc trình bày ý kiến luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKS-XM ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc đối với các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị L1, Nguyễn Thị Q về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Về hình phạt chính:

Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322, Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo N từ 13 (mười ba) đến 18 (mười tám) tháng tù.

Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322, Điều 65, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo L1 từ 12 (mười hai) đến 16 (mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 32 (ba mươi hai) tháng.

Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322, Điều 65, Điều 17 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Q từ 12 (mười hai) đến 16 (mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 32 (ba mươi hai) tháng.

Về hình phạt bổ sung:

Đề nghị phạt bổ sung mỗi bị cáo 20.000.000đ (hai mươi) đến 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).

Về vật chứng:

Đề nghị tịch thu, sung công quỹ nhà nước các vật chứng sau: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y72 5G, số IMEI1: 863206057785197, số IMEI2: 863206057785189; 01 sim số: 0989578065;01 sim số: 0396435210; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04c, màu bạc, số IMEI1: 3517787 30741143, số IMEI2: 354844580741141; 01 sim số: 0979062932; 01 Máy tính hiệu Casio MX-128; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, số kiểu máy V2027, màu xanh, số IMEI1: 862310051808517, số IMEI2: 862310051808509; 01 sim điện thoại số: 0347.796.xxx; số tiền 7.010.000đ thu giữ của bị cáo L1, số tiền bị cáo L1 tự nguyện giao nộp trong giai đoạn xét xử là 6.600.000đ. Số tiền 7.350.000₫ thu giữ của bị cáo Q, số tiền bị cáo Q tự nguyện giao nộp trong giai đoạn xét xử là 14.695.000₫.

Đối với số tiền thu giữ của bị cáo L1 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) là tiền bán vé số, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành hình phạt bổ sung.

Đố với số tiền 700.000đ thu giữ của bị cáo Q, là tiền bị cáo bán vé số không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành hình phạt bổ sung.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không bào chữa, tranh luận.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tình tiết vụ án và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Ngày 06/4/2024, Nguyễn Thị N nảy sinh ý định tổ chức ghi số đề cho những người đến mua vé số tại Đại lý vé số H2 (do N làm chủ), nên rủ Huỳnh Thị L1 và Nguyễn Thị Q (cả hai được N thuê bán vé số tại hai điểm tại ấp T và ấp T xã B thuộc Đại lý vé số H2) cùng tham gia ghi số đề cho các con bạc để chuyển lại cho N, L1 và Q đồng ý.

Cả ba cùng thoả thuận, hàng ngày sau khi L1 và Q ghi đề Q chụp hình phơi đề gửi cho L1 qua tin nhắn ứng dụng Zalo, L1 có nhiệm vụ tổng hợp phơi đề của Q cùng với phơi đề của L1 ghi cho các con bạc gửi vào nhóm của tin nhắn Z do N lập ra. Mỗi tháng L1 và Q được N chi trả 6.000.000 đồng gồm tiền thuê bán vé số và tiền ghi số đề giúp N. Nhẹ trực tiếp đứng ra nhận phơi đề và không chuyển lại cho người khác, nếu các con bạc thua thì Quang chuyển lại số tiền ghi đề của các con bạc cho L1, để L1 chuyển cho N, nếu con bạc thắng bạc vượt quá số tiền ghi được từ phơi đề thì N sẽ trực tiếp trả tiền cho các con bạc thông qua L1.

Ngày 07/4/2024, L1 ghi số đề cho 37 con bạc (không rõ lai lịch) tham gia mua lô đề, số đề trên 35 phơi đề đài miền N (gồm Tiền Giang, Kiên Giang, Đ), 01 phơi đề đài miền T (gồm K, Huế) và 01 phơi đề đài miền B (ký hiệu trên tờ phơi từ số 019968 đến số 020004). Tổng số tiền L1 đứng ra giúp Nhẹ tổ chức cho 37 con bạc tham gia đánh bạc là 13.610.000 đồng (miền N là 12.980.000 đồng, miền T là 360.000 đồng, miền B là 270.000 đồng). Q ghi số đề cho 28 con bạc (không rõ lai lịch) tham gia mua lô đề, số đề trên 32 phơi đề (ký hiệu trên tờ phơi từ số 016153 đến số 016184), trong đó có 28 phơi đề ghi số lô đề đài miền N và 04 phơi đề ghi số lô đề đài miền B (có 12 con bạc trong số 28 con bạc mua lô đề đài miền N còn mua lô đề của đài miền B được Q ghi tổng hợp trên 04 phơi đề). Tổng số tiền L1 và Q đứng ra giúp N tổ chức cho 65 con bạc tham gia đánh bạc đánh bạc là 35.655.000đ (ba mươi lăm triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Thời điểm phát hiện hành vi phạm tội của các bị cáo chưa mở thưởng, nên chưa tính tiền thắng thua. Q và L1 mới chụp phơi đề chuyển cho N qua ứng dụng zalo chứ chưa chuyển tiền cho N.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị L1 và Nguyễn Thị Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an ninh công cộng và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến lối sống văn hóa, thuần phong mỹ tục của xã hội và được xem như một tệ nạn xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo N sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình, bị cáo N có ông nội Huỳnh Văn N2 là liệt sỹ, đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, bị cáo L1 và Q đã tự nguyện nộp lại số tiền đánh bạc, nên cho các bị cáo N, L1, Q hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về vị trí, vai trò của các bị cáo:

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự phân công nhiệm vụ và cấu kết chặt chẽ nên không xem là phạm tội có tổ chức, mà là đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo N là người khởi xướng rủ rê và có vai trò là chủ đề, nên cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo và bị cáo phải chịu mức án cao nhất. Còn bị cáo L1, Q có vai trò giúp sức cho bị cáo N, ghi đề từ các con bạc để chuyển lại cho bị cáo N để lấy tiền công, nên bị cáo L1 và Q phải chịu mức án ngang nhau, sau bị cáo N.

Nhận thấy, bị cáo L1 và Q đã tự nguyện giao nộp lại số tiền đánh bạc, đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hai bị cáo đều đã lập gia đình và sinh sống tại địa phương và có nơi cư trú rõ ràng. Hai bị cáo đều là nữ, bị cáo Q có chồng, đã ly hôn và hiện nay đang nuôi hai con nhỏ, một cháu sinh năm 2013 và một cháu sinh năm 2015, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, còn bị cáo L1 có ông nội là liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Nhận thấy bị cáo L1 và Q có thể tự cải tạo, mà không nhất thiết phải cách ly hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, nên cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho hai bị cáo L1 và Q được hưởng án treo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Đồng thời xét thấy cho bị cáo L1 và Q hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc nhằm thu lợi bất chính, nên phạt bổ sung mỗi bị cáo 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y72 5G, số IMEI1: 863206057785197, số IMEI2: 863206057785189; 01 sim số: 098957 8065;01 sim số: 0396435210; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04c, màu bạc, số IMEI1: 351778730741143, số IMEI2: 3548445 80741141; 01 sim số: 0979062932; 01 Máy tính hiệu Casio MX-128; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, số kiểu máy V2027, màu xanh, số IMEI1: 862310051808517, số IMEI2: 862310051808509; 01 sim điện thoại số: 0347.796.xxx;

Đối với số tiền 7.310.000đ thu giữ của bị cáo L1, trong đó số tiền bán vé số là 300.000đ không liên quan đến hành phạm tội, nên tiếp tục tạm giữ để thi hành hình phạt bổ sung, số tiền còn lại 7.010.000đ là tiền ghi đề nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 8.050.000đ thu giữ của bị cáo Q, trong đó số tiền 700.000₫ là tiền bị cáo bán vé số không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên tiếp tục tạm giữ để thi hành hình phạt bổ sung. Số tiền còn lại là 7.350.000đđ là tiền ghi đề nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, trong giai đoạn xét xử, bị cáo L1 tự nguyện nộp lại số tiền ghi đề còn lại là 6.600.000đ, bị cáo Q tự nguyện nộp lại số tiền ghi đề là 14.695.000đ, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với ông Trần Quang T3 mua lô đề của L1 với tổng số tiền 24.000 đồng. Quá trình điều tra, xác minh T3 không có tiền án tiền sự, số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên ngày 11/12/2024 Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với các con bạc khác tham gia đánh bạc mua lô đề của các bị cáo, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xử lý sau.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị L1 và Nguyễn Thị Q phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

  1. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  2. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị L1 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (16/4/2025).

    Giao bị cáo Huỳnh Thị L1 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (16/4/2025).

    Giao bị cáo Nguyễn Thị Q cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị L1, Nguyễn Thị Q, mỗi bị cáo phải nộp phạt bổ sung 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).

  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

    • 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y72 5G, số IMEI1: 86320605 7785197, số IMEI2: 863206057785189; 01 sim số: 0989578065;01 sim số: 0396435210;
    • 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04c, màu bạc, số IMEI1: 351778730741143, số IMEI2: 354844580741141; 01 sim số: 097906 2932; 01 Máy tính hiệu Casio MX-128;
    • 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, số kiểu máy V2027, màu xanh, số IMEI1: 862310051808517, số IMEI2: 862310051808509; 01 sim điện thoại số: 0347.796.xxx;
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền thu giữ của bị cáo L1 là 7.010.000₫ (bảy triệu không trăm mười nghìn đồng), số tiền còn lại 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành hình phạt bổ sung. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền thu giữ của bị cáo Q là 7.350.000đ (bảy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền còn lại 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành hình phạt bổ sung. (Theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 20/01/2025) của Công an huyện X).
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền bị cáo L1 tự nguyện nộp là 6.600.000đ (sáu triệu sáu trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0001718 ngày 24/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc.
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền bị cáo Q tự nguyện nộp là 14.695.000đ (mười bốn triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0001717 ngày 24/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc.

    (Vật chứng thu giữ đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bảo quản theo biên bản giao nhận vật chứng số 43/BB, ngày 20/01/2025).

  6. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị L1 và Nguyễn Thị Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Xuyên Mộc;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • - CQTHA hình sự CA tỉnh BR-VT;
  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PV06, PC10 – Công an tỉnh BR-VT;
  • - CCTHADS huyện Xuyên Mộc;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thảo Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về tổ chức đánh bạc

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N và đồng phạm "Tổ chức đánh bạc"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger