TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày: 14-4-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hiên
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Nam Lương
- Ông Cao Nho Trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hữu Xuân Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
Đặng Văn D, sinh ngày 08/5/1984 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Ngọc T (đã chết) và bà Dương Thị L; có vợ, con: Chưa.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án số 56/2012/HSST ngày 11/7/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 20/10/2012.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
* Bị hại:
- Ông Nguyễn Quang M, sinh năm 1981
Nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt). - Ông Võ Văn H, sinh năm 1978
Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt). - Ông Lê Văn T1, sinh năm 1977
Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Trần Đình Q, sinh năm 1980;
Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt). - Ông Đặng C, sinh năm 1966;
Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 09/6/2024, Đặng Văn D điều khiển xe mô tô 79L1-6134 mang theo đèn pin, kìm, cây xà beng, lưỡi cưa đi đến khu vực bãi biển B thuộc tổ dân phố P, phường C, thành phố C để trộm cắp bình ắc quy của các ghe đậu tại đây. Dự chèo thuyền thúng của ông Đặng C đến ghe của ông Trần Đình Q rồi điều khiển ghe của ông Q kéo theo thuyền thúng đến khu vực biển gần cầu T thuộc tổ dân phố K, phường B, thành phố C để lấy trộm bình ắc quy trên các ghe khác. Tại đây, D chèo thuyền thúng đến ghe của ông Võ Văn H lấy 02 bình ắc quy 12V-150A hiệu GS; đến ghe của ông Nguyễn Quang M lấy 02 bình ắc quy 12V-150A hiệu DONGNAI; đến ghe của ông Lê Văn T1 lấy 01 bình ắc quy 12V-100A hiệu GS và 01 bình ắc quy 12A- 100A hiệu DONGNAI. Sau đó, D đưa 06 bình ắc quy lên ghe của ông Q rồi điều khiển ghe về lại khu vực bãi biển B thì bị phát hiện.
Tại Kết luận định giá tài sản số 115/KL-HĐĐGTS ngày 13/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: 02 bình ắc quy 12V-150A hiệu GS của ông Võ Văn H trị giá 4.800.000 đồng; 02 bình ắc quy 12V-150A hiệu DONGNAI của ông Nguyễn Quang M trị giá 1.800.000 đồng; 01 bình ắc quy 12V-100A hiệu GS và 01 bình ắc quy 12A- 100A hiệu DONGNAI của ông Lê Văn T1 trị giá 2.400.000 đồng. Tổng trị giá tài sản: 9.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số: 21/CT-VKSCR-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Đặng Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh thực hành quyền công tố giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Đặng Văn D và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn D từ 15 tháng 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 thùng xốp, kích thước 36x50x32cm, màu vàng; 01 cây xà beng được làm bằng kim loại, kích thước 46x7,5cm; 01 cây kìm cắt được làm bằng kim loại, kích thước 16x5,5 cm và 01 lưỡi cưa được làm bằng kim loại, kích thước 31x2cm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên không xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xét.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ, ngày 09/6/2024, tại khu vực biển thuộc tổ dân phố K, phường B, thành phố C; Đặng Văn D có hành vi trộm cắp 06 bình ắc quy của ông Võ Văn H, ông Nguyễn Quang M và ông Lê Văn T1 với tổng giá trị 9.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh truy tố bị cáo Đặng Văn D theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo Đặng Văn D là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản. Lẽ ra phải lấy đó làm bài học cho bản thân để trở thành người công dân tốt nhưng lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Văn D bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự (Phạm tội hai lần trở lên).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, do đó, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Quang M, ông Võ Văn H và ông Lê Văn T1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng C, ông Trần Đình Q không yêu cầu bồi thường nên không xét.
[6] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 thùng xốp, kích thước 36x50x32cm, màu vàng; 01 cây xà beng được làm bằng kim loại, kích thước 46x7,5cm; 01 cây kìm cắt được làm bằng kim loại, kích thước 16x5,5 cm và 01 lưỡi cưa được làm bằng kim loại, kích thước 31x2cm.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với Đặng Văn D có hành vi tự ý sử dụng thuyền thúng của anh Đặng C và ghe của anh Trần Đình Q để đi trộm cắp tài sản nhưng không có ý thức và hành vi chiếm đoạt thuyền thúng và ghe nên không xem xét trách nhiệm hình sự; Đối với ông Đặng Văn S không biết bị cáo Đặng Văn D sử dụng xe mô tô 79L1-6134 của ông S đi trộm cắp tài sản nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo Đặng Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 292 của Bộ Luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Đặng Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Đặng Văn D 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy : 01 thùng xốp, kích thước 36x50x32cm, màu vàng(tại thời điểm giao nhận không có nắp thùng); 01 cây xà beng được làm bằng kim loại, kích thước 46x7,5cm; 01 cây kìm cắt được làm bằng kim loại, kích thước 16x5,5 cm và 01 lưỡi cưa được làm bằng kim loại, kích thước 31x2cm.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh).
- Về án phí: Bị cáo Đặng Văn D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Ngọc Hiên |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: khoản 1 Điều 173
