TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 -THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HS-ST
Ngày 10 tháng 12 năm 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thanh Hương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hiếu và bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiến - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Diệu – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Hứa Khắc Tuấn L; sinh ngày 16 tháng 9 năm 1996; tại phường Q, tỉnh Thanh Hóa;
nơi đăng ký thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: số nhà F, đường H, khu phố A N, phường Q, tỉnh Thanh Hóa; căn cước công dân số: [...]; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Khắc D và bà Lê Thị P; vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2025 đến ngày 05/7/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T cho đến nay; có mặt.
Người làm chứng:
- - Chị Lê Thị Hải Y, sinh năm 2001; trú tại: thôn Đ, xã H, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
- - Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1973; trú tại: khu B, phường Q, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
- - Anh Mai Đức T, sinh năm 1993, trú tại: thôn T, xã B, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Bá T1, sinh năm 2002; trú tại: Khu E, phường Q, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 30 phút ngày 24/6/2025, tổ công tác Phòng PC04, Công an tỉnh T tiến hành kiểm tra phòng 206, khách sạn L, khu phố F, phường B, thị xã B (nay là phường Q, tỉnh Thanh Hóa). Tại thời điểm kiểm tra, phát hiện trong phòng có 02 đối tượng gồm: Hứa Khắc Tuấn L, sinh năm 1996, trú tại số nhà F, H, khu phố A, phường N, thị xã B (nay là tổ dân phố A, N, phường Q, tỉnh Thanh Hóa) và Lê Thị Hải Y, sinh năm 2001, trú tại thôn Đ, xã Y, huyện H (nay là xã H, tỉnh Thanh Hóa) có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý. Khi bị yêu cầu kiểm tra, L tự lấy trong túi quần bên trái đang mặc ra 01 túi vải, màu đỏ, bên trong có chứa 01 túi nilon màu trắng, kích thước gói khoảng (5x8)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 03 gói nilon màu trắng, kích thước mỗi gói khoảng (2x3)cm, bên trong là gói giấy màu trắng, trong mỗi gói giấy đều chứa các hạt tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu hiệu M3). L khai nhận đây là ma tuý đá của L cất giấu để ai hỏi mua thì L bán. Kiểm tra người L và Y, không phát hiện, thu giữ gì. Tiến hành kiểm tra phòng, phát hiện và thu giữ trên mặt bàn: 01 chiếc tất chân màu xám, bên trong có chứa túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon có chứa chất thực vật khô, màu xanh (niêm phong ký hiệu M1); 01 gói giấy, kích thước khoảng (2x3)cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M2) và 01 chai nhựa (dạng chai nước khoáng) trên nắp chai có gắn ống nhựa (niêm phong ký hiệu S1). Tiếp tục kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi xách màu nâu đang treo ở cây treo quần áo trong phòng 02 túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi đều chứa chất thực vật khô màu xanh và 01 túi nilon trong suốt, kích thước khoảng (2x2)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M4). L khai nhận chất thực vật khô màu xanh trong các túi nilon là ma tuý, cần sa và các hạt tinh thể màu trắng trong các gói giấy bọc ngoài nilon trắng là ma tuý tổng hợp (dạng đá) của L cất giấu mục đích để bán kiếm lời. Tổ công tác tiến hành mời người chứng kiến lập biên bản sự việc và thu giữ, niêm phong tang vật theo quy định.
Ngày 25/6/2025, tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, Hứa Khắc Tuấn L xin đầu thú và thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đồng thời tự nguyện giao nộp 01 điện thoại S, Galaxy A15, màu xanh; số IMEI: 357301900808248, bên trong gắm sim số 0965275134 và 083598037 (BL: 75, 96,97).
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hứa Khắc Tuấn L tại số nhà F, đường H, khu phố A, phường N (nay là phường Q, tỉnh Thanh Hóa) theo quy định. Quá trình khám xét không phát hiện, thu giữ gì.
Đối với chiếc điện thoại L sử dụng để liên lạc với Đoàn T2 qua ứng T3 để mua và nhận ma tuý là điện thoại Iphone 15 và có cài đặt ứng dụng Telegram nhưng sau đó, do cần tiền nên L đã bán lại chiếc điện thoại trên cho cửa hàng điện thoại của ở Hà Nội (nhưng không nhớ địa chỉ cụ thể) nên không thu giữ được. Ngày 04/11/2025 ông Hứa Khắc D là bố bị cáo đã nộp thay cho bị cáo toàn bộ số tiền 3.250.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có.
Ngày 07/7/2025, Phòng K Công an tỉnh T ban hành kết luận số: 2298/KL-KTHS, kết luận:
- Chất thực vật khô, màu xanh của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 7,321gam, loại Cần sa.
- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,056gam, loại Methamphetamine.
- Các hạt tinh thể màu trắng đựng trong túi nilon màu trắng kích thước khoảng (5x8)cm của phong bì niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,239gam, loại Methamphetamine.
- Các hạt tinh thể màu trắng đựng trong 03 (ba) túi nilon màu trắng, kích thước mỗi túi khoảng (2x3)cm của phong bì niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,360gam, loại Methamphetamine.
- Chất dạng thực vật khô, màu xanh của phong bì niêm phong ký hiệu M4 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,989gam, loại Cần sa.
- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M4 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,055gam, loại Ketamine.
* Kết quả xét nghiệm ma túy trong nước tiểu:
- Hứa Khắc Tuấn L, dương tính với ma túy, loại Methamphetamine và cần sa (nhóm THC) (BL; 15).
- Lê Thị Hải Y, âm tính với ma túy.
Tại Cơ quan CSĐT bị can khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng đầu tháng 6 năm 2025 (không nhớ ngày cụ thể), L lên mạng xã hội T3 tìm mua ma túy (ma túy đá và cần sa) về để sử dụng và bán kiếm lời. Thông qua mạng xã hội, L được một tài khoản có tên “Đoàn Tuyền” (không biết họ tên thật, địa chỉ cụ thể) chào bán ma túy. L đặt vấn đề hỏi mua của Đoàn T2 02 gam ma túy đá và 10 gam ma túy cần sa với giá 2.000.000VNĐ/2gam, cần sa giá 1.300.000VNĐ/10gam (tổng 2 loại ma túy là 3.300.000 đồng). Hai bên thoả thuận, T2 sẽ gửi ma túy vào Thanh Hóa cho L theo địa chỉ Long cung cấp, khi nhận hàng L sẽ thanh toán tiền. Khoảng 2 ngày sau, tại gầm cầu vượt phường Q, L nhận được 01 gói hàng từ S. L mở ra kiểm tra thì thấy đúng với loại và số
lượng ma túy đã đặt mua nên L thanh toán trực tiếp số tiền 3.300.000 đồng cho T2 qua người giao hàng và thanh toán 70.000 đồng tiền công (tiền ship). L đem gói ma túy về nhà và kiểm tra lại, thì thấy ngoài 01 túi ma túy đá và 01 túi ma túy cần sa ra thì còn có 01 túi nhỏ đựng chất tinh thể màu trắng (sau khi bị bắt, L mới biết đó là túi Ketamine, T2 gửi kèm để chào bán Ketamine cho L). Sau đó, L lấy một ít ma túy đá và một ít cần sa để sử dụng. Số ma tuý đá còn lại L chia thành các túi nhỏ để bán với giá 500.000VNĐ/gói. Đối với cần sa, L cũng lấy 1 ra một ít, đóng vào các túi nilon nhỏ, để bán với giá 250.000VNĐ/túi. Toàn bộ số ma tuý trên, L cất giấu bên trong tủ quần áo trong phòng ngủ của mình. Sau khi có ma tuý, L chào bán ma tuý thông qua các mối quan hệ bạn bè, xã hội trên Facebook và Z (chủ yếu là bạn bè quanh khu vực B, H, N).
Khoảng 19 giờ ngày 06/6/2025, Nguyễn Bá T1, sinh năm 2002, trú tại khu phố E, phường P, thị xã B (nay là phường Q, tỉnh Thanh Hóa), liên hệ qua ứng dụng Mesenger, hỏi mua của L 1 túi cần sa, L đồng ý bán cho T1 01 túi cần sa với giá 250.000VNĐ, rồi gửi số tài khoản ngân hàng A, số A của L cho T1, bảo T1 thanh toán tiền trước. T1 chuyển khoản cho L 250.000VNĐ, nhận được tiền, L hẹn T1 đến đầu đường H (khu vực gầm cầu vượt đường sắt) thuộc khu E N, phường Q để nhận ma tuý. Sau đó, L lấy 01 túi cần sa đã đóng gói sẵn đem ra đầu đường H giao cho T1. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12/6/2025, T1 liên lạc với L qua mesenge hỏi mua 01 túi cần sa với giá 250.000VNĐ. Sau khi nhận được tiền T1 chuyển khoản, L cũng hẹn T1 ra khu vực đầu đường H để giao ma tuý. Sau đó, L lấy 1 túi cần sa đem ra đầu đường H bán cho T1. Khoảng 19 giờ ngày 18/6/2025, T1 tiếp tục hỏi mua của L 01 túi cần sa với giá 250.000VNĐ. Cũng như 2 lần trước, sau khi nhận được tiền L lấy 1 túi cần sa đem ra đầu đường H giao ma tuý cho T1 như đã thỏa thuận.
Chiều ngày 23/6/2025, do cãi nhau với bố mẹ nên L đến thuê phòng 206 khách sạn L1 ở, đồng thời đem theo toàn bộ số cần sa và ma túy đá. Khi đến phòng 206, L lấy một ít ma túy đá và một ít cần sa để sử dụng. Số ma túy còn lại L cất giấu tại nhiều vị trí khác nhau trong phòng 206 mục đích có ai hỏi mua thì bán kiếm lời.
Khoảng 17 giờ ngày 23/6/2025, Mai Đức T, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã N, huyện N (nay là xã B, tỉnh Thanh Hóa), gọi điện thoại từ số 0983.304.xxx của mình đến số điện thoại 0965.275.xxx của L hỏi mua 2.500.000VNĐ tiền ma túy đá. L đồng ý nên gửi số tài khoản ngân hàng A, số A của L cho T, yêu cầu T chuyển tiền trước. T chuyển khoản cho L 2.500.000VNĐ. Nhận được tiền, L lấy một ít ma túy đá, gói vào gói giấy màu trắng, bọc bên ngoài bằng 1 lớp nilon, bỏ vào bên trong khẩu trang đem ra cất giấu dưới gốc cột điện đầu đường H, rồi gửi vị trí định vị cho T đến lấy. Sau khi cất giấu ma tuý, L đi cách xa vị trí cất giấu khoảng 50 mét ngồi đợi. Khoảng 30 phút sau, L thấy T
một mình đi xe máy đến vị trí định vị, L đi lại gần rồi chỉ chỗ giấu ma túy cho T xuống lấy. Khi lấy được ma túy, T lên xe máy rời đi, còn L quay về phòng 206, khách sạn L1. Tại đây, L lấy 01 vỏ chai nước khoáng, đục lỗ trên nắp chai để làm bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Tuy nhiên, sau khi đục lỗ xong, L đã làm rơi, vỡ bộ cóng thủy tinh nên L không tiếp tục sử dụng ma túy mà nằm chơi điện tử. Toàn bộ số tiền bán ma túy, L đã nạp hết vào tài khoản Game online.
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/6/2025, L nhắn tin rủ Lê Thị Hải Y, sinh năm 2001, trú tại thôn Đ, xã Y, huyện H (nay là xã H, tỉnh Thanh Hóa) là bạn gái của L mới quen qua mạng, đến phòng 206, khách sạn L1 chơi. Khoảng 30 phút sau, Y một mình đi đến khách sạn L1 rồi lên phòng 206 nói chuyện, tâm sự với L. Trong lúc L và Y đang nằm trên giường trong phòng 206, khách sạn L1 nói chuyện thì bị Cơ quan Công an vào kiểm tra, phát hiện thu giữ toàn bộ số ma túy đá và cần sa L đang cất giấu cùng các đồ vật, tài liệu liên quan.
Cáo trạng số 13/CT-VKSKV6 ngày 05/11/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Tịch thu tiêu huỷ: 01 chai nhựa (loại vỏ chai nước khoáng D), trên nắp chai có gắn ống nhựa màu trắng được dán kín, niêm phong; Toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định được dán kín, niêm phong. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy, màu xanh, đã qua sử dụng; số tiền 3.250.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và vật chứng thu giữ được, đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 06/6/2025 đến ngày 23/6/2026, tại khu phố E N, phường Q, tỉnh Thanh Hóa, Hứa Khắc Tuấn L đã 4 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Bá T1 và Mai Đức T, trong đó bán cho T1 ba lần và bán cho T một lần, cụ thể: ngày 06/6/2025 L bán cho Nguyễn Bá T1 01 túi cần sa với giá 250.000 đồng; ngày 12/6/2025, L bán cho T1 01 túi cần sa với giá 250.000 đồng; ngày 18/6/2025, L tiếp tục bán cho T1 01 túi cần sa với giá 250.000 đồng; ngày 23/6/2025, L tiếp tục bán cho Mai Đức T một túi ma túy đá với giá 2.5000.000 đồng. Cả bốn lần, T1 và T đã thanh toán đủ số tiền bằng hình thức chuyển khoản cho L. Ngoài ra, bị cáo còn tàng trữ 8,31gam, loại cần sa; 0,655gam, loại Methamphetamine và 0,055 gam, loại Ketamine nhằm mục đích bán kiếm lời. Tổng khối lượng 03 chất ma tuý nêu trên tương đương 0,673g Methamphetamine hoặc 2,691g Ketamine hoặc 1,34581kg cần sa. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thanh Hoá truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người và trật tự xã hội. Vì vậy, phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đầu thú và tác động đến gia đình tự nguyện nộp toàn bộ số tiền 3.250.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có, đây được coi là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự. Cần áp dụng các tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5]. Các tình tiết liên quan trong vụ án gồm:
Đối với Lê Thị Hải Y, là người có mặt tại phòng 206, khách sạn L1 tại thời điểm kiểm tra. Quá trình điều tra, Y khai nhận tối ngày 24/6/2025, L nhắn tin rủ Y đến khách sạn L1 chơi, do có mối quan hệ tình cảm nam nữ nên Y đồng ý, rồi một mình đi đến phòng 206, khách sạn L1 gặp L. Tại đây, L và Y chỉ ngồi nói chuyện tâm sự, không sử dụng ma túy cùng L và không biết việc L cất giấu ma túy tại phòng 206, khi lực lượng Công an đến kiểm tra, thu giữ ma túy thì Y mới biết việc L đang cất giấu ma túy tại phòng 206 để bán, bản thân Y không biết và không tham gia vào việc mua bán ma túy của L. Tiến hành kiểm tra, khai thác dữ liệu điện thoại di động thu giữ của Lê Thị Hải Y, không phát hiện nội dung nào liên quan đến hành vi mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy giữa L và Y. Tiến hành Test ma túy trong nước tiểu thu giữ của Lê Thị Hải Y, kết quả âm tính với ma túy. Lời khai của Y phù hợp với lời khai của L. Căn cứ tài liệu điều tra, đủ căn cứ xác định, Lê Thị Hải Y không biết và không tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma túy của Hứa Khắc Tuấn L, không thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy. Do đó, không đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự, xử lý hành chính đối với Lê Thị Hải Y trong vụ án này.
Về nguồn gốc ma tuý thu giữ của L, bị cáo khai đặt mua của người có tài khoản “Đoàn Tuyền” trên mạng xã hội, bị cáo không biết họ tên thật, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Trong vụ án này, Nguyễn Bá T1, Mai Đức T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do không xác định khối lượng ma tuý nên phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1, T về hành “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định. Đối với Hứa Khắc Tuấn L cũng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L là đúng quy định.
Đối với Phạm Văn Q, là người được giao quản lý và trực tiếp điều hành các hoạt động kinh doanh khách sạn L1. Do không biết mục đích L đến thuê phòng để làm địa điểm thực hiện hành vi mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, không tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma túy cùng Hứa Khắc Tuấn L, do đó, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Phạm Văn Q trong vụ án này. Tuy nhiên, Phạm Văn Q là người quản lý, điều hành các hoạt động kinh doanh của khách sạn L1. Đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, nhưng không thực hiện đúng các quy định của pháp luật, đã để cho Hứa Khắc Tuấn L, lợi dụng việc thuê phòng 206, làm địa điểm để thực hiện hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma tuý. Phòng CSĐT tội phạm về Ma túy, Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn Q về hành vi “Để xảy ra hoạt động mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý trong khu vực do mình quản lý” là đúng theo quy định.
[6]. Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy, màu xanh, số I: 357301900808248, đã qua sử dụng, thu giữ của L khi tiếp nhận đầu thú, đây là phương tiện liên lạc để phạm tội nên phải tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với 01 chai nhựa (loại vỏ chai nước khoáng D), trên nắp chai có gắn ống nhựa màu trắng, đây là công cụ để bị cáo sử dụng ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với số ma tuý còn lại sau giám định, đây là vật cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với số tiền 3.250.000 đồng, đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên phải tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Bố bị cáo là ông Hứa Khắc D đã nộp thay cho bị cáo toàn bộ số tiền này tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo biên lai thu tiền, ký hiệu BLTU/25E, số 000057 ngày 04/11/2025.
[7]. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, vợ chồng đã ly hôn, bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[8]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hứa Khắc Tuấn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Hứa Khắc Tuấn L 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 26/6/2025.
Căn cứ khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); điểm a, b khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 chai nhựa (loại vỏ chai nước khoáng D), trên nắp chai có gắn ống nhựa màu trắng được dán kín, niêm phong; Toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định được dán kín, niêm phong.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy, màu xanh, đã qua sử dụng; số tiền 3.250.000 đồng theo biên lai thu tiền, ký hiệu BLTU/25E, số 000057 ngày 04/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
(Đặc điểm của các vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng thi hành án dân sự số 6 - Thanh Hoá).
Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Hứa Khắc Tuấn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
| Các hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
| Vũ Văn Hiếu Nguyễn Thị Hương | Trịnh Thanh H |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trịnh Thanh Hương |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hình sự số 37/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 đối với Hứa Khắc Tuấn L tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
