|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày 10-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mộng Lành
Bà Nguyễn Thanh Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh ngày 01/01/1989; Tại huyện P, tỉnh Hậu Giang;
Nơi cư trú: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu;
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1963 và bà Võ Thị T, sinh năm 1965;
Có vợ tên Trần Thị N, sinh năm 1989; Con 03 người, lớn nhất sinh năm 2010 nhỏ nhất sinh năm 2019;
Tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân: Ngày 28/10/2024 bị Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đã chấp hành xong án phạt tù vào ngày 22/5/2025 (Chưa được xoá án tích)
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/5/2025 cho đến nay.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Ông Lê Tấn P, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp V, xã H, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 23/3/2024, Nguyễn Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu đen (không rõ biển kiểm soát) đi từ nhà thuộc ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu đến thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang để mua rau, củ, quả mang về tỉnh Bạc Liêu bán. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đi ngang một kho chứa đồ cạnh bờ sông thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, B dừng xe để tìm nơi đi vệ sinh, khi đi đến trước cửa kho chứa đồ thì B thấy 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, màu sơn: đen, biển kiểm soát: 68L1-055.33 của ông Lê Tấn P đang đậu không có người trong coi, trên xe có gắn sẵn chìa khoá, nên nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô này để làm phương tiện đi lại. Lúc này, B dắt chiếc xe mô tô của B đang chạy đến bụi rậm gần đó để cất giấu, rồi đi bộ lại vị trí chiếc xe JUPITER đang đậu, B lén lút dắt xe ra đường lộ rồi lên xe, mở khoá, khởi động và điều khiển xe chạy về nhà, trên đường đi do lo sợ bị phát hiện nên B1 đã dừng lại tháo biển số xe rồi vứt bỏ xuống sông (không rõ khu vực nào), khi B mang xe về đến nhà thì vợ của B1 là Trần Thị N có hỏi B, chiếc xe JUPITER từ đâu mà có, B nói với vợ do B mua lại của người khác để làm phương tiện đi lại. Đến khoảng 08 giờ ngày 24/3/2024, B sử dụng chiếc xe JUPITER trộm cắp có được chở vợ đi chợ, sau đó B gửi xe tại nhà một người quen, rồi thuê xe ôm đến ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang để lấy chiếc xe SIRIUS mà B cất giấu trong bụi rậm rồi điều khiển về nhà. B dùng chiếc xe JUPITER trộm cắp có được làm phương tiện đi lại, còn chiếc xe SIRIUS Bời bán lại cho một người đàn ông thu mua phế liệu (không rõ nhân thân, lý lịch) với số tiền 1.000.000 đồng. Đến ngày 21/5/2024, B sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, biển kiểm soát: 68L1- 055.33 chở theo Trần Thị N đến ấp F, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì bị Công an thị xã G bắt quả tang và tạm giữ chiếc xe. Tại cơ quan Công an bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, biển kiểm soát: 68L1- 055.33 trên địa bàn ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
* Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, số máy: 1PB3025762, số khung: RLCJ1PB30DY025752, màu sơn: đen, không gắn biển kiểm soát (đã qua sử dụng).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐGTS ngày 09/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện A, kết luận:
01 (Một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại JUPITER, số máy: RLCJ1PB30DY025752, số khung: 1PB3025762, màu sơn: đen, bị hại khai mua năm 2013 với số tiền 35.000.000 đồng. Giá trị tài sản tại thời điểm định giá ngày 23/3/2024 là 3.500.000 đồng (Ba triệu, năm trăm nghìn đồng)
Tại bản Cáo trạng số: 03/CT-VKSAB ngày 05/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn B từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho người bị hại là ông Lê Tấn P: 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, số máy: 1PB3025762, số khung: RLCJ1PB30DY025752, màu sơn: đen, không gắn biển kiểm soát (đã qua sử dụng).
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Lê Tấn P không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn B bồi thường khoản thiệt hại nào.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, thống nhất các điều luật mà Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng và không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 23 giờ ngày 23 tháng 3 năm 2024, tại ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người dân, lén lút lấy trộm 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, số máy: 1PB3025762, số khung: RLCJ1PB30DY025752, màu sơn: đen, biển kiểm soát: 68L1- 055.33 của bị hại là ông Lê Tấn P. Giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp theo kết luận định giá là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng quy định pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có năng lực hành vi, nhận thức được việc lợi dụng sự sơ hở của bị hại lén lút lấy trộm tài sản của họ là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nhưng chỉ vì lợi ích cá nhân, muốn có tiền mà không lao động chân chính mà bị cáo đã bất chấp hậu quả pháp lý trộm cắp tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo không những đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến sở hữu tài sản của chủ sở hữu hợp pháp của bị hại mà còn làm mất an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội để tuyên xử mức án phù hợp.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết.
[5] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho người bị hại là ông Lê Tấn P: 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, số máy: 1PB3025762, số khung: RLCJ1PB30DY025752, màu sơn: đen, không gắn biển kiểm soát (đã qua sử dụng).
[6] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B, 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho người bị hại là ông Lê Tấn P: 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, số máy: 1PB3025762, số khung: RLCJ1PB30DY025752, màu sơn: đen, không gắn biển kiểm soát (đã qua sử dụng).
(Theo quyết định chuyển vật chứng số 03/QĐ-VKS-AB ngày 05/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Trần Mộng Thúy |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
