|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày: 04 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Nội.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Liêm.
- Ông Nguyễn Minh Triều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lý Băng Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 38/2025/QĐXXST-HS ngày 07/5/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tùng L (tên gọi khác Tùng E), sinh năm: 1994, tại tỉnh Bến Tre; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn S và bà: Đặng Thị Đ; Vợ Phạm Thị K, sinh năm: 1991 (đã ly hôn), C 01 tên Nguyễn Thị Huỳnh A, sinh năm 2015.
- + Tiền án: Không.
- + Tiền sự: Không.
- + Nhân thân: Ngày 03/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xử phạt bị cáo 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 30/8/2013.
- + Bắt tạm giữ: 11/01/2025.
- + Tạm giam ngày: 20/01/2025.
Bị cáo đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực huyện L. (có mặt).
- Bị hại:
- Anh Tống Phước H, sinh năm 1988. (có đơn xin vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Cẩm P, sinh năm 1989. (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số B, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn T (Đ1), sinh năm: 1977; Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị B, sinh năm: 1981; Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có xem trên ứng dụng Youtube kênh “Trại chồn Hương Hậu L, Đồng Tháp” và biết được về Trại nuôi chồn hương (tên gọi khác cầy vòi hương) của anh Tống Phước H và chị Nguyễn Thị Cẩm P được cấp phép nuôi động vật hoang dã nên Nguyễn Tùng L nảy sinh ý định chiếm đoạt đem bán tiêu xài cá nhân. Vào khoảng 18 giờ ngày 07/01/2025, L sử dụng xuồng Composite dạng vỏ lãi, màu trắng xanh có gắn động cơ máy xăng xuất phát từ bến nhà của anh ruột L là anh Nguyễn Văn T thuộc ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre để di chuyển bằng đường sông đi đến Trại chồn của anh H. Khi đi L mang theo 01 kiềm cộng lực, vợt để bắt chồn, khoảng 30 túi lưới mùng và 01 đèn pin loại nhỏ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, L đến gần trại cầy vòi hương của anh H tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Khi đến nơi, qua quan sát, L không thấy ai trông coi nên L đột nhập từ mé sông vào trại chồn của anh H. L dùng kiềm cộng lực cắt lưới B40 mở hàng rào đột nhập vào trại rồi dùng tay mở khoen gài từng chuồng nuôi, dùng vợt bắt từng con cầy vòi hương để vào mùng lưới rồi cột lại. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 08/01/2025 L bắt được 30 con cầy vòi hương, mỗi con khoảng 2,7kg đến 5kg đem xuống vỏ lãi rồi nhanh chóng điều khiển vỏ lãi chở 30 cầy vòi hương trộm được về lại nhà tại tỉnh Bến Tre để cất giấu. Trên đường về thì có 04 cầy vòi hương vùng vẫy và rớt xuống sông, L quay lại tìm nhưng không được nên tiếp tục chạy về Bến Tre.
Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 08/01/2025, L về đến nơi, lúc này L lấy xe mô tô biển số 84D1-023.84 và giỏ xách nhựa, sọt nhựa chở cầy vòi hương đem về nhà của L (cách khoảng 500 mét) nuôi nhốt rồi tìm người bán lấy tiền tiêu xài. Tuy nhiên, trên đường đi bị lực lượng Công an kiểm tra, L sợ phát hiện nên bỏ chạy để lại số tang vật gồm: 01 xe mô tô biển số 84D1-023.84, 26 cá thể cầy vòi hương (trong đó 25 cá thể động vật sống, 01 cá thể động vật chết) với tổng trọng lượng 91,6kg, 01 sọt nhựa màu vàng, 01 giỏ nhựa màu đỏ đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh và 02 chiếc dép nhựa màu vàng, lực lượng công an thu giữ. Đến ngày 11/01/2025, L đến Công an huyện M, tỉnh Bến Tre đầu thú. (Bút lục 119-125, 130, 158-173)
Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 16/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã định giá tổng giá trị 30 con cầy vòi hương là 132.000.000đ (Một trăm ba mươi hai triệu đồng).
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ của Nguyễn Tùng L: 01 xuồng Composite có chữ “Thành Tân” màu xanh trắng đã qua sử dụng; 01 máy có chữ “Honda”, màu đỏ đen, đã qua sử dụng; 01 kiềm cộng lực bằng kim loại có tay cầm gắn mũ nhựa màu xanh; 01 dao có lưỡi dao bằng kim loại; 01 bình xịt hơi cay màu đen có chữ “Takedown".
Quá trình điều tra, anh Tống Phước H và chị Nguyễn Thị Cẩm P đã nhận lại 26 cá thể cầy vòi hương, bị cáo Nguyễn Tùng L đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại tài sản (04 cá thể cầy vòi hương bị thất thoát) cho anh H nhận với số tiền 50.000.000 đồng xong. Nay anh H và chị P không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSLVo ngày 21/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn Tùng L để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng số: 36/CT-VKSLVo ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tùng L và khẳng định việc truy tố trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trên cơ sở phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi của bị cáo gây ra, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội phạm, nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Tùng L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự;
+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38;, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tùng L hình phạt từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản, thu nhập nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
+ Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 84D1-023.84; 01 (một) xuồng C1 có chữ “Thành Tân” màu xanh trắng đã qua sử dụng; 01 (một) máy có chữ “Honda”, màu đỏ đen, đã qua sử dụng
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) sọt nhựa màu vàng; 01 (một) giỏ nhựa màu đỏ đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh; 02 (hai) chiếc dép nhựa màu vàng; 01 (một) kiềm cộng lực bằng kim loại có tay cầm gắn mũ nhựa màu xanh; 01 (một) dao có lưỡi bằng kim loại; 01 (một) bình xịt hơi cay màu đen có chữ “Takedown".
* Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tùng L đồng ý xét xử vắng mặt đối với các bị hại và những người làm chứng, đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng, nội dung vụ án như đã nêu trên, tại phần tranh luận bị cáo không phát biểu tranh luận với Kiểm sát viên, lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L và Điều tra viên trong quá trình điều tra; Của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò và Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo, các bị hại đều không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tùng L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng và nội dung vụ án đã nêu trên. Lời thừa nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng, cùng các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 21 giờ ngày 07/01/2025 đến rạng sáng ngày 08/01/2025, bị cáo Nguyễn Tùng L đã có hành vi đột nhập trái phép vào trại nuôi động vật hoang dã hợp pháp của anh Tống Phước H tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, dùng công cụ cắt hàng rào, mở chuồng nhốt và bắt trộm tổng cộng 30 con cầy vòi hương có tổng giá trị là 132.000.000 đồng đem về tỉnh Bến Tre nhằm mục đích bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo là cố ý xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;”
[3] Bị cáo Nguyễn Tùng L là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng vì mong muốn có được tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu của bản thân mà không phải tốn sức lao động nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, chẳng những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử công khai ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm mục đích giáo dục phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện đầu thú, đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho người bị hại; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có công với cách mạng (đang thờ cúng liệt sĩ). Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài để bị cáo có đủ thời gian sửa chữa sai phạm của mình từ đó có ý thức tôn trọng pháp luật, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập không đáng kể, tài sản không có, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và hiện đang chấp hành hình phạt tù; do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 84D1-023.84; 01 (một) xuồng C1 có chữ “Thành Tân” màu xanh trắng đã qua sử dụng; 01 (một) máy có chữ “Honda”, màu đỏ đen, đã qua sử dụng. Đây là những công cụ mà bị cáo sử dụng để phạm tội và còn giá trị sử dụng nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước. Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) sọt nhựa màu vàng; 01 (một) giỏ nhựa màu đỏ đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh; 02 (hai) chiếc dép nhựa màu vàng; 01 (một) kiềm cộng lực bằng kim loại có tay cầm gắn mũ nhựa màu xanh; 01 (một) dao có lưỡi bằng kim loại; 01 (một) bình xịt hơi cay màu đen có chữ “Takedown”. Đây là những công cụ mà bị cáo sử dụng để phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Lưu theo hồ sơ vụ án gồm: 01 thẻ nhớ micro, 64GB ghi lại hình ảnh liên quan đến diễn biến vụ việc và 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại 26 cá thể cầy vòi hương, bị cáo Nguyễn Tùng L đã bồi thường thiệt hại tài sản (04 cá thể cầy vòi hương bị thất thoát) với số tiền 50.000.000 đồng xong. Nay bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tùng L bị kết tội, bị cáo không thuộc trường hợp không phải chịu án phí theo quy định và không thuộc trường hợp miễn nộp án phí theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Do đó, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo bản án này theo quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tùng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 38, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tùng L 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/01/2025.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, khoản 2 Điều 106, Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 84D1-023.84; 01 (một) xuồng C1 có chữ “Thành Tân” màu xanh trắng đã qua sử dụng; 01 (một) máy có chữ “Honda”, màu đỏ đen, đã qua sử dụng.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) sọt nhựa màu vàng; 01 (một) giỏ nhựa màu đỏ đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh; 02 (hai) chiếc dép nhựa màu vàng; 01 (một) kiềm cộng lực bằng kim loại có tay cầm gắn mũ nhựa màu xanh; 01 (một) dao có lưỡi bằng kim loại; 01 (một) bình xịt hơi cay màu đen có chữ “Takedown".
(Vật chứng này thể hiện trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).
- Lưu theo hồ sơ vụ án gồm: 01 thẻ nhớ micro, 64GB ghi lại hình ảnh liên quan đến diễn biến vụ việc và 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Tùng L phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Tùng L có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại là anh Tống Phước H và chị Nguyễn Thị Cẩm P vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án này hoặc kể từ ngày bản án này được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thanh Liêm – Nguyễn Minh Triều |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Nội |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 03 năm 03 tháng tù
