Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-PT

Ngày 18-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đức Dương

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Vinh và ông Nguyễn Hồng Chương

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Đoàn Thùy An là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyên – Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Mon D có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn M, sinh năm 1993 tại tỉnh Đăk Nông; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao đồng tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Lê Thị X; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số: 123/2010/HSPT ngày 17-11-2010 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông xử phạt 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ”; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-01-2025 đến ngày 06-02-2025; tại ngoại - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 04 giờ 30 ngày 01-01-2025, Nguyễn M trên đường đi bộ từ nhà nghỉ T, tọa lạc tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông về nhà tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ (khi đi ngang qua nhà bà Trần Thị Á, sinh năm 1940) thì phát hiện bà Á đi nhà thờ hàn lễ. Sau đó, M trèo qua hàng rào đi ra phía sau lấy thanh sắt dài khoảng 20cm cạy chốt khóa cửa phụ vào phòng ngủ lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và lấy 01 cọc tiền trên kệ gỗ đi ra ngoài đón xe Taxi về lại nhà nghỉ T. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, M lấy tiền ra đếm được 20.000.000 đồng, lấy số tiền 14.500.000 đồng đi tiêu xài cá nhân và trả nợ, số tiền còn lại còn và điện thoại cất giấu tại nhà nghỉ. Đến 15 giờ cùng ngày, khi biết có cảnh sát đến nhà bà Á, M đã đến C huyện Đ để giao nộp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và số tiền 5.500.000 đồng và vtrình bày toàn bộ diễn biến sự việc.

Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS, ngày 08-01-2025 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Plus màu xám, có giá trị là 2.830.000 đồng.

Bản án số: 25/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 của của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn M 01 năm 06 tháng tù. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 08-4-2025, bị cáo Nguyễn M kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, cụ thể: Xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo; đồng thời trình bày: Khoảng 10 giờ ngày 01-01-2025, sau khi biết tin có cảnh sát đến nhà bị hại và suy nghĩ không thể trốn tránh được nên khoảng 15 giờ cùng ngày đã đến Công an huyện Đ giao nộp điện thoại di động, số tiền đã chiếm đoạt của bị hại và trình bày diễn biến hàn vi chiếm đoạt tìa sản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông phát biểu quan điểm: Tại thời điểm bị kết án năm 2010 bị cáo dưới 18 tuổi; trước khi bị phát hiện bị cáo đã đến trình diện và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thuộc trường hợp “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Tự thú” quy định tại điểm i, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết: người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng khoản 1 Điều 173, các điiểm b, i, s, r khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông đã kết án bị cáo Nguyễn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[2.1]. Tại thời điểm bị kết án về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 205 của Bộ luật Hình sự năm 1999, bị cáo Nguyễn M 16 năm 01 tháng 02 ngày tuổi. Điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như sau: “1.Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng...”. Như vậy, lần bị kết án này về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 25/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil đối với bị cáo M thuộc trường hợp “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, căn cứ “Biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm” (bút lục số 41), “Biên bản khám nghiệm hiện trường” (bút lục số 54), “Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú” (bút lục 28) và các chứng cứ khác lưu hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Trước khi bị phát hiện bị cáo đã đến cơ quan điều tra Công an huyện Đ tự nguyện khai báo về hành vi phạm tội của mình và giao vật chứng của vụ án, tình tiết này thuộc trường hợp “Người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng tình tiết “Đầu thú” đối với bị cáo là chưa đúng pháp luật. Ngoài ra, hồ sợ vụ án còn có “Đơn xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu bồi thường thiệt hại” của người bị hại (bút lục số 72), song Hội đồng xét xử sơ thẩm không nhận định và áp dụng tình tiết này đối với bị cáo là có thiếu sót.

[2.2]. Mặc dù, bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, song gia đình bị cáo sinh sống nhiều năm gần, biết rõ bị hại sinh sống một mình và là người già. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp.

[2.3]. Căn cứ diễn biến, tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đồng thời căn cứ các quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018, sửa đổi bổ sung tại Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Mặt khác, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Do Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo và giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với các quy định của pháp luật.

[2.4]. Thời điểm xét xử sơ thẩm nơi cư trú của bị cáo M tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, song thời điểm xét xử phúc thẩm theo Nghị quyết số 1671/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tinh L năm 2025” (có hiệu lực thi hành từ ngày 16-6-2025), xã Đ, huyện Đ nay thuộc xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự giao bị cáo M cho UBND xã Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục theo quy định của pháp luật.

[3]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Mon K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông về áp dụng pháp luật và hình phạt:

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s, r khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm i Điều 52; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Mon 0 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo 02 (Hai) năm thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

1.2. Giao bị cáo Nguyễn M cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục; gia đình Nguyễn M có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

1.3. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ I);
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng HSNV CA tỉnh Đắk Nông;
  • - CQTHAHS CAtỉnh Đắk Nông;
  • - TAND huyện Đăk Mil;
  • - VKSND huyện Đăk Mil;
  • - Chi cục THADS huyện Đăk Mil;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Tổ HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Đức Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-PT ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 37/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ng mon
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger