|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HS-PT
Ngày 18 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Thẩm phán: Ông Phạm Ngọc Thành và bà Nguyễn Thị Thuý Hoàn
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: bà Bùi Thị Thuý Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 215/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Mạnh T và Đỗ Văn V đối với Bản án số: 200/2024/HSST ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXPT-HS ngày 10/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐPT-HS ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 09/11/1964 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Số nhà A, ngõ A, đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hóa: 10/10; nghề nghiệp: Hưu trí; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Nguyễn Đình T1 (đã chết, khi còn sống ông T1 được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất) và bà Hoàng Thị R (đã chết, khi còn sống bà R được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba); có vợ là Nguyễn Thị H và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Từ tháng 9/1983 đến tháng 9/1987 tham gia nghĩa vụ quân sự. Từ tháng 12/1987 đến tháng 12/2022 công tác tại phường T, thành phố T. Ngày 19/12/2022, Thành ủy Thái Bình kỷ luật Cách chức Đảng ủy viên Đảng ủy phường T nhiệm kỳ 2020-2025 theo Quyết định số 282. Nghỉ chế độ hưu trí từ tháng 3/2023. Là Đảng viên Đ3, bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 21/12/2023 theo Quyết định số 67 của Ủy Ban kiểm tra Thành ủy T32; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023; trích xuất có mặt.
- Họ và tên: Đỗ Văn V, sinh ngày 24/6/1964 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Số nhà D, đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; trình độ học vấn: 07/10; nghề nghiệp: Công chức; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Đỗ Văn T2 (đã chết. Khi còn sống ông T2 tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học) và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Vũ Thị L1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Từ tháng 9/1983 đến tháng 12/1986 tham gia nghĩa vụ quân sự. Từ tháng 12/1987 đến tháng 6/2024 công tác tại phường T, thành phố T. Là Đảng viên Đ3, bị đình chỉ sinh hoạt đảng 01/7/2024 theo Quyết định số 79 của Ủy Ban kiểm tra Thành ủy T32. Bị tạm đình chỉ nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân phường T khóa X, nhiệm kỳ 2021-2026 từ ngày 24/6/2024; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/6/2024; trích xuất có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh T: Luật sư Tạ Anh T3 - Công ty TNHH E, Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: P, Tòa C Khu đô thị C, phường X, quận N, thành phố Hà Nội và Luật sư Phạm Mai H1 – Công ty L16, Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: Số A, T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội (Luật sư Tạ Anh T3 có mặt, Luật sư Phạm Mai H1 vắng mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn V: Các Luật sư Nguyễn Danh H2, Nguyễn Hữu T4 và Hoàng Phương D – Công ty L17, Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: P, N9, số A L, phường N, quận T, thành phố Hà Nội (Luật sư Nguyễn Danh H2 có mặt, Nguyễn Hữu T4 và Hoàng Phương D vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Uỷ ban nhân dân (UBND) thành phố T, tỉnh Thái Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Gia D1 - Chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố T32, tỉnh Thái Bình. Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Phan Thị Thu H3 - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND thành phố T32, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
- Uỷ ban nhân dân (UBND) phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Ngọc L2 - Chức vụ: Chủ tịch UBND phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; Trú tại: Số nhà A, ngõ A, đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt)
- Anh Đỗ Vũ Á, sinh năm 1997; Trú tại: Số nhà D, đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt)
- Ông Phạm Ngọc T5, sinh năm 1958; Trú tại: Số nhà B, ngõ G, đường H, tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ông Đoàn Quang V1, sinh năm 1977; Trú tại: Số nhà A, đường C, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ông Đoàn Đình T6, sinh năm 1962; Trú tại: Số nhà D, ngõ A, đường H, tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ông Phạm Ngọc T7, sinh năm 1965; Trú tại: Số nhà A, ngõ G, đường L, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bà Hà Thị L3, sinh năm 1979; Trú tại: Số nhà A, đường C, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Mạnh Thảo N là Phó Chủ tịch UBND phường T, thành phố T giai đoạn 2003-2004 và Chủ tịch UBND phường T giai đoạn năm 2004 đến 2010, bị cáo Nguyễn Mạnh T không có thẩm quyền giao đất nhưng đã làm trái chức vụ, quyền hạn được giao, chỉ đạo và tham gia giao 64 lô đất = 4.104,6 m² (đất màu = 1.445,9 m²; đất ao = 1061,6 m²; đất xây dựng = 768,5 m²; đất thủy lợi = 828,6 m²) cho các hộ gia đình, cá nhân tại 05 khu đất trên địa bàn phường T (khu vực phía sau tập thể dầu khí tổ A (tổ 29 cũ) 11 lô đất; khu đất Nhà văn hóa tổ A2 (tổ B và 32 cũ) 28 lô đất; khu vực gốc đa ông T8 tổ 2 (tổ 3 cũ) 16 lô đất; khu N (tổ C cũ) 08 lô đất; khu N (tổ F cũ) 01 lô đất) và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang xây dựng nhà để ở gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước từ năm 2003 đến năm 2010 số tiền 644.786.600 đồng. Bị cáo T giao cho bị cáo Đỗ Văn V là cán bộ văn phòng kiêm thủ quỹ của UBND phường T mua phiếu thu ở các hiệu sách về để viết và đã thu tiền của 43 hộ gia đình, cá nhân tương ứng 50 phiếu thu/44 lô đất với tổng số tiền 2.360.000.000 đồng, gây thiệt hại cho Nhà nước từ năm 2003 đến năm 2010 số tiền 395.965.400 đồng; bị cáo T đồng ý cho cán bộ tổ dân phố số 29 cũ (nay là tổ A) phường T, chi của 02 hộ gia đình, cá nhân số tiền 146.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền đã thu của 45 hộ gia đình, cá nhân được giao đất là 2.506.000.000 đồng. Bị cáo T chỉ đạo bị cáo V để ngoài ngân sách của Nhà nước, chi hết theo chỉ đạo của bị cáo T (69 mục) vào đầu tư, thanh toán xây dựng hạ tầng cơ sở, mua sắm đầu tư sửa chữa trụ sở UBND phường, hỗ trợ cho các Tổ dân phố, các Nhà trường, Trạm y tế, Công an phường mua sắm trang thiết bị và xây dựng; hỗ trợ công tác giải phóng mặt bằng đường N thuộc khu vực phường T, thành phố T và xây dựng nhà văn hóa các tổ dân phố. Cụ thể:
1. Năm 2003:
Bị cáo T tham gia giao 02 lô đất màu, tổng diện tích 178,3m² cho hộ gia đình ông Ninh Thế H4. Năm 2004 - 2005, ông H4 đến nộp tiền và đề nghị viết lại phiếu phu, bị cáo T chỉ đạo bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 80.000.000 đồng. Gia đình ông H4 đã xây nhà 03 tầng để ở trên 01 lô đất và bán 01 lô đất cho chị Đỗ Thị H5, chị H5 đã xây nhà 01 tầng. Giá trị thiệt hại 02 lô đất tại thời điểm năm 2010 là 7.488.600 đồng.
2. Năm 2004:
2.1. Bị cáo T đồng ý cho cán bộ tổ dân phố 29 cũ (tổ A mới) thu, chi số tiền 70.000.000 đồng để giao 01 lô đất màu diện tích 72,8 m² cho hộ ông Vũ Xuân Đ. Gia đình ông Đ đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 3.057.600 đồng.
2.2. Bị cáo T tham gia giao 02 lô đất xây dựng (có Biên bản giao đất ngày 20/4/2004) với tổng diện tích 124,8 m², trong đó:
- 01 lô diện tích 63,3 m² cho hộ ông Phạm Thanh H6. Hiện gia đình bà Nguyễn Thị H đã xây dựng nhà 3,5 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 37.980.000 đồng.
- 01 lô diện tích 61,5 m² cho hộ ông Vũ Ngung . Hiện gia đình ông Đỗ Văn L4 đã xây dựng nhà 02 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 36.900.000 đồng.
3. Năm 2005:
Bị cáo T chỉ đạo giao 07 lô đất màu với tổng diện tích 578,7 m², giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 24.570.000 đồng và 01 lô đất xây dựng, diện tích 61,2 m², giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 36.720.000 đồng, gồm:
- Bị cáo T đồng ý cho cán bộ tổ dân phố 29 cũ (tổ A mới) thu, chi số tiền 76.000.000 đồng để giao 01 lô đất màu diện tích 87,8 m² cho hộ bà Nguyễn Thị C. Gia đình bà C chưa xây dựng công trình gì. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 3.687.600 đồng.
- 01 lô đất màu diện tích 89 m² cho hộ ông Nguyễn Sỹ Đ1, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 25.000.000 đồng. Gia đình ông Đ1 đã xây nhà 02 tầng để ở. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 3.738.000 đồng.
- 01 lô đất màu diện tích 77,1 m² cho hộ ông Nguyễn V2, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 60.000.000 đồng. Gia đình ông V2 chưa xây dựng công trình gì. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 3.238.200 đồng.
- 01 lô đất màu diện tích 87 m² cho hộ ông Phạm Văn T9, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 30.000.000 đồng. Gia đình ông T9 chưa xây dựng công trình gì. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 3.654.000 đồng.
- 01 lô đất màu diện tích 80,7 m² cho hộ ông Đỗ Văn C1, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 15.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Phạm Minh H7 đã xây nhà 02 tầng để ở. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 3.389.400 đồng.
- Bị cáo T chỉ đạo giao 01 lô đất màu diện tích 78,6 m² cho hộ ông Nguyễn Văn T10 nhưng không thu tiền lý do đổi đất làm nhà văn hóa tổ 28 cũ. Gia đình ông T10 đã xây nhà 03 tầng để ở. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 3.301.200 đồng.
- Bị cáo T chỉ đạo giao 01 lô đất màu diện tích 78,5 m² cho hộ bà Phạm Thị S nhưng không thu tiền lý do đổi đất làm nhà văn hóa tổ 30 cũ. Gia đình bà S chưa xây dựng công trình gì. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 3.297.000 đồng.
- Bị cáo T chỉ đạo giao 01 lô đất xây dựng diện tích 61,2 m² cho hộ ông Đoàn Văn N1 nhưng không có phiếu thu tiền. Hiện gia đình ông Nguyễn Thanh H8 (Nguyễn Văn H9) đã xây nhà 03 tầng để ở. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 36.720.000 đồng.
4. Năm 2006:
Bị cáo T chỉ đạo giao 42 lô đất tổng diện tích 2.508,5 m², trong đó: 08 lô đất màu, diện tích 529,8 m², giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 22.251.600 đồng; 09 lô đất xây dựng, diện tích 582,5 m², giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 453.350.000 đồng; 16 lô đất ao, diện tích 949,2 m², giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 16.554.600 đồng; 09 lô đất Thủy lợi, diện tích 447 m², giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 của 01 lô là 531.000 đồng, còn lại Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T không có căn cứ để kết luận định giá do bảng giá đất của UBND tỉnh T32 không quy định giá đất Thủy lợi.
4.1. Giao 08 lô là đất màu, tổng diện tích 529,8 m², gồm:
- 01 lô đất diện tích 64,1 m² cho hộ bà Đặng Thị Vân A, chưa xác định được số tiền thu. Hiện gia đình ông Nguyễn Văn D2 đã xây nhà 02 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 2.692.200 đồng.
- 01 lô đất diện tích 65,6 m² cho hộ ông Trần Tiến D3, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 100.000.000 đồng. Gia đình ông D3 đã xây nhà 02 tầng để ở. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 2.755.200 đồng.
- 01 lô đất diện tích 66,4 m² cho hộ ông Phạm Ngọc T7, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 30.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Phạm Ngọc C2 đã xây nhà 02 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 2.788.800 đồng.
- 01 lô đất diện tích 66,6m² cho hộ ông Đào Anh T11, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 30.000.000 đồng. Hiện gia đình bà Đào Bích T12 quản lý nhưng chưa xây dựng công trình gì. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 2.797.200 đồng.
- 01 lô đất diện tích 66,7 m² cho hộ ông Phạm Xuân T13 (Phạm Ngọc T14) nhưng không thu tiền, lý do đối trừ vào tiền xây dựng công trình nhà văn hóa các tổ dân phố của phường T. Hiện gia đình bà Đào Bích T12 quản lý nhưng chưa xây dựng công trình gì. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 2.801.400 đồng.
- 01 lô đất diện tích 66,6 m² cho hộ ông Vũ Văn Y, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 100.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Nguyễn Viết C3 đã xây nhà 03 tầng để ở. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 2.797.200 đồng.
- 01 lô đất diện tích 66,7 m² cho hộ ông Đỗ Văn H10, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 100.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Nguyễn Viết C3 đã xây nhà 03 tầng để ở. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 2.801.400 đồng.
- 01 lô đất diện tích 67,1 m² cho hộ ông Tô Thanh H11, bị cáo V có viết phiếu thu 100.000.000 đồng nhưng không thu tiền, lý do đối trừ vào tiền xây dựng công trình nhà văn hóa tổ 31 cũ (nay là tổ A). Hiện gia đình ông Khiếu Đức T15 đã xây nhà 03 tầng để ở. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 2.818.200 đồng.
4.2. Giao 09 lô đất xây dựng, tổng diện tích 582,5 m², gồm:
- 01 lô đất diện tích 60,5 m² cho hộ bà Nguyễn Thị N2, bị cáo chưa xác định được số tiền thu. Hiện gia đình bà Cao Thị T16 đã xây nhà 03 tầng để ở. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 36.300.000 đồng.
- 01 lô đất diện tích 60,9 m² cho hộ bà Nguyễn Thị N2, hiện chưa xác định được số tiền thu. Hiện gia đình anh Bùi Duy N3 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 36.540.000 đồng.
- 01 lô đất diện tích 60,1 m² cho hộ ông Bùi Viết N4, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 40.000.000 đồng. Hiện gia đình chị Nguyễn Thị Minh P đã xây nhà 03 tầng để ở. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 36.060.000 đồng.
- 01 lô đất diện tích 60,9 m² cho hộ ông Tô Thanh H11, bị cáo V có viết phiếu thu 30.000.000 đồng nhưng không thu tiền, lý do đối trừ vào tiền xây dựng công trình nhà văn hóa tổ B2 cũ (nay là tổ A). Hiện gia đình ông Nguyễn Văn N5 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 36.540.000 đồng.
- 01 lô đất diện tích 65,6 m² cho hộ ông Ngô Thanh L5 (Ngô Văn L6), chưa xác định được số tiền thu. Hiện gia đình ông Phạm Bá T17, sinh năm 1979 đã xây nhà 02 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 39.360.000 đồng.
- 01 lô đất diện tích 89,8 m² cho hộ ông Lê Đức C4, bị cáo V có viết phiếu thu 50.000.000 đồng nhưng không thu tiền, lý do đối trừ vào tiền xây dựng công trình nhà văn hóa tổ B2 cũ (nay là tổ A). Hiện gia đình ông Vũ Ngọc C5 đã xây nhà cấp 4. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 98.780.000 đồng.
- 01 lô đất diện tích 57,4 m² cho hộ bà Hoàng Thị L7, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 30.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Dương Quang T18 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 63.140.000 đồng.
- 01 lô đất diện tích 60,5 m² cho hộ ông Đỗ Văn T19, bị cáo V có viết phiếu thu 30.000.000 đồng nhưng không thu tiền, lý do đối trừ vào tiền san lấp ao, làm ngõ đi chung tổ 25-32 cũ (nay là tổ A). Hiện gia đình ông Đào Văn C6 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 66.550.000 đồng.
- 01 lô đất diện tích 66,8 m² cho hộ gia đình ông Nguyễn Xuân M, bà Nguyễn Thị T20, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 50.000.000 đồng. Hiện gia đình ông M, bà T20 chưa xây dựng công trình gì. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 40.080.000 đồng.
4.3. Giao 16 lô đất ao, tổng diện tích 949,2 m², gồm:
- 01 lô đất diện tích 59,6 m² cho hộ bà Đỗ Thị Phương T21, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 30.000.000 đồng. Hiện gia đình bà Vũ Thị L8 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.072.800 đồng.
- 01 lô đất diện tích 57,5 m² cho hộ ông Nguyễn Văn T22, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 72.000.000 đồng. Hiện gia đình bà Nguyễn Thị Xuân H12 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.035.000 đồng.
- 01 lô đất diện tích 55,4 m² cho hộ ông Phạm Quang T23, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 72.000.000 đồng. Hiện gia đình ông T23 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 997.200 đồng.
- 01 lô đất diện tích 59,2 m² cho hộ bà Nguyễn Thị Thu L9, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 72.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Nguyễn Quang S1 đã xây nhà 02 tầng để ở. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.065.600 đồng.
- 01 lô đất diện tích 57,3 m² cho hộ ông Đoàn Văn N1 nhưng không có phiếu thu tiền. Hiện gia đình ông Nguyễn Bá C7 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.031.400 đồng.
- 01 lô đất diện tích 57,2 m² cho bà Nguyễn Thị N2, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 30.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Bùi Minh T24, bà Bùi Thị L10 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.029.600 đồng.
- 01 lô đất diện tích 56,4 m² cho hộ ông Phạm Minh T25, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 20.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Nguyễn Bá C7 đã xây nhà cấp 4. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.015.200 đồng.
- 01 lô đất diện tích 56,4 m² cho hộ bà Phạm Thị T26, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 50.000.000 đồng. Hiện gia đình bà T26 đã xây nhà cấp 4 để ở. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.015.200 đồng.
- 01 lô đất diện tích 59,3 m² cho hộ bà Đinh Thị H13, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 60.000.000 đồng. Hiện gia đình bà Nguyễn Thị M1 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.067.400 đồng.
- 01 lô đất diện tích 57,2 m² cho hộ bà Bùi Thị Kim T27, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 40.000.000 đồng. Hiện gia đình bà T27 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.029.600 đồng.
- 01 lô đất diện tích 57,4 m² cho hộ bà Trần Thị Thanh N6, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 40.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Phạm Văn T28 đã xây nhà 02 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.033.200 đồng.
- 01 lô đất diện tích 58,7 m² cho hộ ông Nguyễn Quốc Đ2, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 70.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Đ2 đã xây nhà 04 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.056.600 đồng.
- 01 lô đất diện tích 62,1 m² cho hộ ông Cao Duy B, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 30.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Đinh Mạnh H14 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.117.800 đồng.
- 01 lô đất diện tích 56,8m² cho hộ bà Đặng Thu H15, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 30.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Đỗ Ngọc M2, bà Nguyễn Thị H12 đã xây dựng nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.022.400 đồng.
- 01 lô đất diện tích 53,8 m² cho hộ bà Nguyễn Thị Hồng V3, ông Phạm Duy D4, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 72.000.000 đồng. Hiện gia đình ông D4 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 968.400 đồng.
- 01 lô đất diện tích 55,4 m² cho hộ bà Nguyễn Thị N2 nhưng chưa xác định được số tiền thu. Hiện gia đình bà Nguyễn Thị L11 đã xây dựng nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 997.200 đồng.
4.4. Giao 09 lô đất Thủy lợi, diện tích 447 m². Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010: Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T không có căn cứ để kết luận định giá. Gồm:
- 01 lô đất diện tích 63,5m² (trong đó khoảng 29,5m² là đất ao, 34m² là đất thủy lợi) cho ông Nguyễn Văn B1 nhưng không thu tiền lý do đổi đất làm đường Phạm Huy Q. Hiện gia đình bà Nguyễn Thị H16 đã xây dựng nhà 02 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 531.000 đồng.
- 01 lô đất diện tích 56,8m² cho hộ bà Nguyễn Thị H17 (tức D5) nhưng không thu tiền lý do bà H17 là hộ gia đình chính sách. Hiện gia đình bà H17 đã xây nhà 01 tầng.
- 01 lô đất diện tích 56,8m² cho hộ bà Nguyễn Thị Minh H18, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 30.000.000 đồng. Hiện gia đình bà H18 đã xây nhà 01 tầng.
- 01 lô đất diện tích 54,9m² cho ông Nguyễn Trọng R1 nhưng không thu tiền lý do đổi đất xây nhà văn hóa tổ 13 cũ, phường T. Hiện gia đình ông Nguyễn Hải A1 đã xây dựng nhà 03 tầng.
- 01 lô đất diện tích 54,9 m² cho hộ ông Lại Thanh H19, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 50.000.000 đồng. Hiện gia đình ông H19 đã xây nhà 03 tầng.
- 01 lô đất diện tích 45,1 m² cho hộ bà Ngô Thị L12, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 60.000.000 đồng. Hiện gia đình bà Nguyễn Thị T29 đã xây tường bao quây xung quanh.
- 01 lô đất diện tích 46,3m² cho hộ bà Hoàng Thị K nhưng không thu tiền lý do bà K là hộ gia đình chính sách. Hiện gia đình bà K đã xây nhà 02 tầng.
- 01 lô đất diện tích 48,7m² cho hộ bà Phạm Thị H20, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 30.000.000 đồng. Hiện gia đình bà Vũ Thị L13 đã xây nhà 02 tầng.
- 01 lô đất diện tích 49,5m² cho hộ ông Vũ Đình  nhưng không thu tiền lý do ông Âu là hộ gia đình chính sách. Hiện gia đình ông  đã xây nhà 01 tầng.
5. Năm 2007:
Bị cáo T chỉ đạo giao 04 lô đất, diện tích 258,9 m², giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 của 01 lô đất màu là 3.624.600 đồng; 01 lô đất ao là 1.026.000 đồng; 02 lô đất thủy lợi Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T không có căn cứ để kết luận định giá. Gồm:
- 01 lô đất màu diện tích 86,3m² cho hộ ông Phạm Quang M3 nhưng không thu tiền lý do ông M3 là hộ gia đình chính sách (có Biên bản giao đất ngày 10/10/2007). Hiện gia đình ông M3 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 3.624.600 đồng.
- 01 lô đất ao diện tích 57 m² cho hộ bà Nguyễn Thị N7, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 72.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Tống Văn H21 đã xây nhà 03 tầng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 1.026.000 đồng.
- 01 lô đất thủy lợi diện tích 64 m² cho hộ ông Nguyễn Văn L14, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 50.000.000 đồng. Hiện gia đình ông L14 đã xây nhà 03 tầng.
- 01 lô đất thủy lợi diện tích 51,6 m² cho hộ ông Trần Văn T30, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 30.000.000 đồng. Hiện gia đình ông Hà Minh Q1 đã xây tường bao quây xung quanh.
6. Năm 2008:
T chỉ đạo giao 04 lô đất thủy lợi, diện tích 201 m², giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010: Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T không có căn cứ để kết luận định giá. Gồm:
- 01 lô đất diện tích 57,3 m² cho hộ ông Nguyễn Đình T31, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 50.000.000 đồng. Hiện gia đình bà Lại Thị G đã xây nhà 03 tầng.
- 01 lô đất diện tích 49,8 m² cho hộ ông Khổng Vũ L15, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 70.000.000 đồng. Hiện gia đình ông L15 đã xây nhà 03 tầng.
- 01 lô đất diện tích 45,1 m² cho hộ đình bà Nguyễn Thị L9, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 60.000.000 đồng. Hiện gia đình bà L9 đã xây tường bao quây xung quanh.
- 01 lô đất diện tích 48,8m² cho hộ bà Trần Thị Thu H22, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 70.000.000 đồng. Hiện gia đình bà H22 đã xây nhà 03 tầng.
7. Năm 2010:
Bị cáo T chỉ đạo giao 01 lô đất diện tích 120,4m² (trong đó 55,4m² là đất ao, 65m² là đất thủy lợi) cho hộ ông Quách Đình P1, bị cáo Vĩnh viết phiếu và thu số tiền 200.000.000 đồng. Hiện gia đình ông P1 đã xây tường bao quây xung quanh. Giá trị thiệt hại tại thời điểm năm 2010 là 997.200 đồng, còn đất thủy lợi không có căn cứ để kết luận định giá.
Các thửa đất trên sau khi các hộ gia đình, cá nhân được giao đã xây dựng nhà ở nhưng chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, công nhận; chưa có thửa đất nào được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Căn cứ Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đây là tội phạm liên tục, kéo dài nên trị giá tài sản bị thiệt hại được xác định tại thời điểm kết thúc hành vi phạm tội năm 2010.
Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 23/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 64 lô đất, tổng diện tích = 4.104,6m² (Trong đó đất màu = 1.445,9m²; đất ao = 1061,6m²; đất xây dựng = 768,5m²; đất thủy lợi = 828,6m²) tại thời điểm năm 2010 là 644.786.600 đồng.
Đối với 44 lô đất bị cáo Đỗ Văn V đồng phạm với T, tổng diện tích = 2.813,1m² (Trong đó đất màu = 911,1m²; đất ao = 919,4m²; đất xây dựng = 395,5m²; đất thủy lợi = 587,1m²) tại thời điểm năm 2010 là 395.965.400 đồng.
Đối với đất thủy lợi thì Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T không có căn cứ để xác định do Bảng giá đất được UBND tỉnh T32 ban hành từ năm 2003 đến nay không quy định giá đất đối với đất thủy lợi.
Bản án số 200/2024/HSST ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Mạnh T, Đỗ Văn V phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”.
-
Hình phạt:
- Áp dụng khoản 3, khoản 5 Điều 357; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 41; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 15/12/2023. Cấm bị cáo Nguyễn Mạnh T đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý hành chính Nhà nước về đất đai trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- Áp dụng điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 357; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 41; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn V 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 25/6/2024. Cấm bị cáo Đỗ Văn V đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý hành chính Nhà nước về đất đai trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, tài liệu, vật chứng, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền, án phí, tuyên quyền kháng cáo và thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/11/2024, bị cáo Nguyễn Mạnh T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt; đề nghị làm rõ tội danh của ông T5, T6, V1 trong vụ án này, tránh để lọt tội phạm; đề nghị xem xét lại 30 lô đất tại tổ B, thời điểm giao đất năm 2002-2004 và tiếp theo do ông Phạm Ngọc T5 giao (chỉ đạo) cán bộ địa chính và Đoàn Quang V1 thực hiện; đề nghị xem xét lại việc định giá tài sản của các khu đất trên không đúng do xác minh nguồn gốc đất chưa chuẩn xác.
Ngày 11/11/2024, bị cáo Đỗ Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo trình bày đã nhận thức được vi phạm của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không vụ lợi cá nhân mà do nhận thức pháp luật về quản lý đất đai còn hạn chế và hoàn cảnh lịch sử của địa phương giai đoạn đó rất khó khăn nên bị cáo muốn tạo nguồn vốn thực hiện các công trình công ích cho địa phương dẫn đến sai phạm. Ngoài ra, bị cáo đề nghị xem xét các kiến nghị của bị cáo về việc bị cáo không tham gia giao đất đối với hộ ông N8 nhưng do biên bản giao đất có tên bị cáo và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm là chưa phù hợp và đề nghị làm rõ vai trò, trách nhiệm của những cán bộ khác như ông Phạm Ngọc T5, Đoàn Quang V1, Đoàn Đình T6 và xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Đỗ Văn V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo trình bày đã nhận thức được vi phạm của mình, rất ăn năn hối cải, bị cáo xin lỗi Đảng, chính quyền và nhân dân tại địa phương, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức do là cấp dưới thực hiện theo chỉ đạo của cấp trên, bị cáo không được hưởng lợi gì, hiện bị cáo mắc nhiều căn bệnh nguy hiểm, sức khoẻ suy yếu nghiêm trọng, chỉ mong sớm được trở về với gia đình để chữa trị bệnh tật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo kháng cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, giảm hình phạt cho các bị cáo, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T mức án từ 6 đến 7 năm tù; xử phạt bị cáo Đỗ Văn V từ 3 đến 4 năm tù.
Các bị cáo và luật sư tranh luận: Luật sư Tạ Anh T3 nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo T, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 5 Nghị quyết 03/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để xem xet cho bị cáo T được hưởng mức án thấp nhất và giữ nguyên các kiến nghị của Toà án cấp sơ thẩm. Luật sư Nguyễn Danh H2 trình bày nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình về tội danh và chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo V, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo V được hưởng mức án thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và cho bị cáo V được hưởng án treo vì bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội với vai trò thứ yếu là cấp dưới chịu sự chỉ đạo của bị cáo T, bị cáo không có tư lợi cá nhân, bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại và hiện nay sức khoẻ của bị cáo rất yếu, có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng. Ngoài ra, luật sư còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết phạm tội liên tục, kéo dài theo Nghị quyết 03/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để định tội với bị cáo V là chưa phù hợp vì bị cáo có năm 2009 không lập phiếu thu nào và các bị cáo phạm tội vì lợi ích của tập thể ( cáo trạng xác định là để an dân) vì vậy có thể miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo V. Các bị cáo đều nhất trí với quan điểm bào chữa của các luật sư, không bổ sung gì. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu đối đáp nêu quan điểm không chấp nhận việc miễn trách nhiệm hình sự cũng như cho bị cáo V được hưởng án treo như đề nghị của luật sư Nguyễn Danh H2
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều trình bày đã nhận thức được vi phạm của mình, rất ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
-
[2] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo:
-
[2.1] Đối với kháng cáo của bị cáo T và bị cáo V về việc xin giảm nhẹ hình phạt:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Mạnh Thảo N là Phó Chủ tịch UBND phường T, thành phố T, giai đoạn 2003-2004 và Chủ tịch UBND phường T, giai đoạn năm 2004 đến 2010, bị cáo không có thẩm quyền giao đất nhưng đã vượt quá quyền hạn của mình, làm trái chức vụ được giao được giao, chỉ đạo và tham gia giao 64 lô đất = 4.104,6 m² (đất màu = 1.445,9 m²; đất ao = 1061,6 m²; đất xây dựng = 768,5 m²; đất thủy lợi = 828,6 m²), trong đó liên tục từ năm 2003 đến năm 2009 giao và chỉ đạo giao 63 lô đất, năm 2010 chỉ đạo giao 01 lô đất cho các hộ gia đình, cá nhân tại 05 khu đất trên địa bàn phường T và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang xây dựng nhà để ở gây thiệt hại cho Nhà nước tại thời điểm định giá năm 2010 là 644.786.600 đồng. Bị cáo Đỗ Văn V là thủ quỹ UBND phường T, là cấp dưới chịu sự phân công và chấp hành sự chỉ đạo của bị cáo T Chủ tịch UBND phường nên đã đi mua phiếu thu về viết 50 phiếu thu tiền của 43 hộ gia đình, cá nhân tương ứng 44 lô đất = 2.813,1 m² (trong đó: đất màu = 911,1 m²; đất ao = 919,4 m²; đất xây dựng = 395,5 m²; đất thủy lợi = 587,1 m²) gây thiệt hại cho Nhà nước tại thời điểm định giá năm 2010 là 395.965.400 đồng. Tổng số tiền thu được từ giao đất là 2.360.000.000 đồng, các bị cáo không nộp được vào ngân sách nhà nước, bị cáo T đã chỉ đạo bị cáo Vĩnh chi hết khoản tiền thu được vào các công trình phúc lợi của địa phương. Căn cứ khoản 3 Điều 59 Luật Đất đai quy định - thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì UBND xã/phường chỉ có thẩm quyền “... cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn”; điểm a khoản 2 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: “a) Trường hợp thiệt hại xảy ra tại thời điểm tội phạm được thực hiện thì thiệt hại được xác định tại thời điểm này; đối với tội phạm liên tục, kéo dài thì thiệt hại được xác định tại thời điểm tội phạm được phát hiện ngăn chặn hoặc tội phạm kết thúc”. Xét thấy, việc giao đất trái thẩm quyền của bị cáo T, bị cáo V và những người liên quan diễn ra nhiều lần, trong nhiều năm, về bản chất bị cáo T cùng những người liên quan thực hiện nhiều lần (chuỗi hành vi) cùng một loại hành vi giao đất trái thẩm quyền, xâm phạm cùng một khách thể do bị cáo T có trách nhiệm quản lý nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm liên tục, kéo dài. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm áp dụng Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xác định hành vi của bị cáo T xảy ra từ năm 2003 đến năm 2010 là tội phạm liên tục, kéo dài là có căn cứ và hợp pháp. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T và Đỗ Văn V phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” theo quy định khoản 3 Điều 357 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T và điểm b, c khoản 2 Điều 357 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo đã vượt quá quyền hạn quy định của pháp luật, làm trái công vụ, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai, tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây khiếu kiện kéo dài, mất ổn định chính trị tại địa phương, vì vậy bản án sơ thẩm quyết định cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là phù hợp. Bị cáo V phạm tội thuộc trường hợp “ ... b) Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật hình sự nên bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo, do đó không có căn cứ chấp nhận đề nghị của luật sư Nguyễn Danh H2 tại phiên toà.
Xét về mức hình phạt thì thấy, Toà án cấp sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo đồng thời răn đe, cảnh tỉnh, phòng chống tội phạm chung là phù hợp, tuy nhiên xử phạt bị cáo T mức hình phạt 10 năm tù, bị cáo Vĩnh mức hình phạt 05 năm tù là có phần nghiêm khắc. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo T đã tác động đến gia đình nộp số tiền 147.003.900 đồng khắc phục toàn bộ hậu quả của vụ án, bị cáo V đã nộp đầy đủ số tiền khắc phục hậu quả và có đơn đề nghị xem xét bị cáo phạm tội với vai trò thứ yếu, không hưởng lợi, đồng thời các bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí hình sự sơ thẩm; tại phiên toà các luật sư xuất trình đơn xin giảm nhẹ hình phạt của các cơ quan của phường T và của nhiều cá nhân, hộ gia đình là những người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án cho các bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm. Tại phiên toà các bị cáo đều trình bày nhận thức được sai phạm của mình, xin lỗi Đảng, Nhà nước, Nhân dân và xin giảm nhẹ hình phạt vì các bị cáo sức khoẻ yếu. Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo Nguyễn Mạnh T và Đỗ Văn V đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đã khắc phục toàn bộ thiệt hại của vụ án, đều thể hiện sự ăn năn, hối cải. Do vậy, cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình và người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.
-
[2.2] Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh T đề nghị làm rõ tội danh của ông T5, T6, V1 trong vụ án; đề nghị xem xét lại 30 lô đất tại tổ B, thời điểm giao đất năm 2002-2004 và tiếp theo do ông Phạm Ngọc T5 giao (chỉ đạo) cán bộ địa chính và Đoàn Quang V1 thực hiện; đề nghị xem xét lại việc định giá tài sản của các khu đất trên không đúng do xác minh nguồn gốc đất chưa chuẩn xác, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại mục [16.1] của Bản án sơ thẩm đã nhận định: Hành vi của các ông Phạm Ngọc T5, Đoàn Đình T6 Đoàn Quang Vũ phạm vào tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” quy định tại Điều 357 Bộ Luật Hình sự, do đã hết thời hạn điều tra của vụ án này nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, nếu đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Đối với đề nghị của bị cáo Nguyễn Mạnh T về việc xem xét lại việc định giá tài sản của các khu đất trên không đúng do xác minh nguồn gốc đất chưa chuẩn xác: Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự đã căn cứ vào văn bản trả lời số 2236 ngày 10/8/2023 của Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh T và các văn bản trả lời của Văn phòng ĐKĐĐ của Sở T, Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ của UBND thành phố, và các cơ quan liên quan (Thuế, Tài chính - Kế hoạch, Quản lý đô thị) và quy định của pháp luật để xác định nguồn gốc đất, loại đất, diện tích đất, vị trí các khu đất, giá trị từng loại tại 5 khu đất. Hội đồng định giá được thành lập theo Quyết định số 2288 ngày 06/7/2023 của UBND thành phố T32. Khi thực hiện nhiệm vụ Hội đồng định giá đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 10 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP và Điều 1 Nghị định số 97/2019/NĐ-CP của Chính phủ.
Hội đồng xét xử nhận thấy các kiến nghị của Toà án cấp sơ thẩm tại bản án sơ thẩm là có căn cứ và phù hợp nên cần tiếp tục kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định.
-
[2.1] Đối với kháng cáo của bị cáo T và bị cáo V về việc xin giảm nhẹ hình phạt:
Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của của các bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo yên tâm cải tạo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước ta như đề nghị của người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tại phiên tòa
- [3] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh T và Đỗ Văn V được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Đỗ Văn V và Nguyễn Mạnh T, sửa bản án số: 200/2024/HSST ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Cụ thể:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Mạnh T, Đỗ Văn V phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”.
-
Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 3, khoản 5 Điều 357; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 41; Điều 50; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 15/12/2023. Cấm bị cáo Nguyễn Mạnh T đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý hành chính Nhà nước về đất đai trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- Áp dụng điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 357; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 41; Điều 50; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 25/6/2024. Cấm bị cáo Đỗ Văn V đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý hành chính Nhà nước về đất đai trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
-
Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Nguyễn Mạnh T và Đỗ Văn V liên đới bồi thường thiệt hại cho cho UBND thành phố T32 số tiền 644.786.600 đồng. Chia kỷ phần, bị cáo V phải nộp 50% của số tiền 395.965.400 đồng thiệt hại là 197.982.700 đồng, bị cáo T phải nộp số tiền 446.803.900 đồng. Chấp nhận gia đình bị cáo T đã tự nguyện nộp thay bị cáo T số tiền 300.000.000 đồng vào ngày 03/4/2024, tại Biên lai thu tiền số 0000648 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, đối trừ, buộc bị cáo T còn phải nộp số tiền 146.803.900 đồng. Gia đình bị cáo T đã nộp số tiền 147.003.900 đồng tại biên lai số 0000834 ngày 20/02/0225 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, bị cáo T đã thực hiện xong. Ngày 03/7/2024, gia đình bị cáo V đã tự nguyện nộp thay bị cáo V số tiền 200.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000698 ngày 03/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, đối trừ, trả lại bị cáo V số tiền 2.017.300 đồng.
-
Về tài liệu, vật chứng:
- - Lưu theo hồ sơ vụ án các phiếu thu tiền và các tài liệu liên quan đến các khoản chi được đánh số từ 6489 đến 6694.
- - Đối với 02 mục chi với số tiền 19.214.500 đồng trong số tiền 2.360.000.000 đồng thu được từ việc giao đất, không giải quyết trong vụ án này.
- - Giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T quản lý 03 sổ ghi Nghị quyết các cuộc họp Ban chấp hành Đảng bộ và 04 sổ ghi Nghị quyết các cuộc họp Ban thường vụ Đảng ủy phường T, thành phố T.
- - Trả lại 06 sổ ghi chép cá nhân cho bị cáo Nguyễn Mạnh T do bà Nguyễn Thị H (vợ bị cáo T) giao nộp.
-
Kiến nghị:
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố T32, tỉnh Thái Bình có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật đối với 64 lô đất tại 05 khu vực thuộc phường T, thành phố T như sau: Khu phía sau tập thể dầu khí tổ A (tổ 29 cũ) là 11 lô đất; khu N (tổ B và 32 cũ) là 28 lô đất; khu gốc đa ông T8 tổ 2 (tổ 3 cũ) là 16 lô đất; khu N (tổ C cũ) là 08 lô đất; khu N (tổ F cũ) là 01 lô đất, đã giao trái thẩm quyền cho 43 hộ gia đình, cá nhân.
- Kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T điều tra, xác minh làm rõ có việc thu tiền bán đất trái thẩm quyền nhưng chưa giao đất tại khu đất Rọc M thuộc tổ A, phường T, thành phố T hay không để có hình thức xử lý.
- Kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T điều tra, xác minh làm rõ có việc giao đất và thu tiền trái thẩm quyền theo 03 Phiếu thu gồm: Phiếu thu số số 03074 (không có ngày, tháng, năm), Phiếu thu số 03073 ngày 10/4/2006 và phiếu thu số 03072 ngày 04/4/2006 của ông Đoàn Đình T6 hay không để có hình thức xử lý nếu có sai phạm.
- Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Mạnh T và Đỗ Văn V không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 18/3/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Duy Luân |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Các Thẩm phán |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 37/2025/HS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về lạm quyền trong khi thi hành công vụ
- Số bản án: 37/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lạm quyền trong khi thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi V T- V
