|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/HS-PT Ngày: 09-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Khắc Hoàn
Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 31/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo Đỗ Thị T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
* Bị cáo có kháng cáo:
Đỗ Thị T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 05/11/1989, tại thị xã S, thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã S, thị xã S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông: Đỗ Văn H (Đã chết) và bà Phùng Thị V; Chồng: Nguyễn Văn Đ; Con: 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 đến ngày 13/5/2024 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh tại xã S, thị xã S, thành phố Hà Nội cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa:
- - Luật sư Hoàng Văn D, sinh năm 1975 – Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh N; (Vắng mặt)
- - Luật sư Phan Thị Tú G, sinh năm 1979 – Văn phòng luật sư Vinh Thăng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh N; (Có mặt)
- - Luật sư Nguyễn Thức G1, sinh năm 1974 – Văn phòng L4, thuộc Đoàn luật sư tỉnh N. (Có mặt)
* Bị hại:
- - Bà Võ Thị N, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- - Bà Trương Thị Lệ T1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận; (Vắng mặt)
- - Bà Ngô Thị L1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt)
- - Bà Vũ Thị Thu T2, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; (Vắng mặt)
- - Bà Võ Thị B, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; (Vắng mặt)
- - Bà Trần Thị Ngọc H1, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn Ô, xã T, huyện B, tỉnh Nghệ An; (Vắng mặt)
- - Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; (Vắng mặt)
- - Bà Trương Thị H2, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình; (Vắng mặt)
- - Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1998; Địa chỉ: Số nhà F, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; (Vắng mặt)
- - Bà Võ Thị T3, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; (Vắng mặt)
- - Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu H, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ; (Vắng mặt)
- - Bà Vũ Huyền T4, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện Q, Thành phố Hà Nội; (Vắng mặt)
- - Bà Nguyễn Thị Tuyết N2, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên; (Vắng mặt)
- - Bà Phạm Trần Bảo P, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; (Vắng mặt)
- - Bà Ngô Thị L2, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, thị xã S, Thành phố Hà Nội; (Vắng mặt)
- - Bà Phùng Thị V1, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, thị xã S, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
* Người làm chứng:
- - Bà Ngô Thị H3, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn L, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; (Vắng mặt)
- - Bà Nguyễn Thị Yến M1, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 20/9/2023 đến ngày 15/12/2023, Đỗ Thị T đã lên mạng tìm các bài viết, hình ảnh có nội dung liên quan đến bán, thanh lý quần áo rồi đăng tải lên trang Facebook cá nhân của mình để khi có người hỏi T sẽ tư vấn làm người đó tin tưởng mua hàng và chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng do T cung cấp, sau đó, T tìm các loại quần áo cũ, không đúng như nội dung cam kết, cũng như thỏa thuận gửi đến địa chỉ của người mua hàng rồi chặn tài khoản mạng xã hội và chiếm đoạt số tiền mà họ đã chuyển để chi tiêu cá nhân. Với thủ đoạn gian dối trên, Đỗ Thị T đã chiếm đoạt của chị Võ Thị N 23.900.000 đồng; chị Trương Thị Lệ T1 2.000.000 đồng; chị Ngô Thị L1 36.780.000 đồng; chị Vũ Thị Thu T2 17.590.000 đồng; chị Võ Thị B 15.800.000 đồng; chị Trần Thị Ngọc H1 16.950.000 đồng; chị Nguyễn Thị D1 3.090.000 đồng; chị Trương Thị H2 6.460.000 đồng; chị Nguyễn Thị M 2.100.000 đồng; chị Võ Thị T3 15.000.000 đồng; chị Vũ Huyền T4 7.560.000 đồng; chị Nguyễn Thị N1 1.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Tuyết N2 9.000.000 đồng; chị Phạm Trần Bảo P 47.800.000 đồng; chị Ngô Thị L2 8.200.000 đồng. Tổng số tiền Đỗ Thị T chiếm đoạt của 15 bị hại là 213.230.000 đồng.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự;
Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1, khoản 3 Điều 21, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo;
Tuyên bố bị cáo: Đỗ Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
1. Về hình phạt: Xử phạt Đỗ Thị T 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 đến ngày 13/5/2024 vào thời gian đi thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 28/02/2025, bị cáo Đỗ Thị T kháng toàn bộ bản án vì cấp sơ thẩm xét xử không đúng, cho rằng bị cáo không phải lừa đảo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Thị T thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại hai hành vi đối với bà Phạm Trần Bảo P và bà Ngô Thị L1 vì bị cáo giao đúng hàng, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi xem xét, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo cho rằng đối với hành vi của bị cáo đối với các bị hại là bà Phạm Trần Bảo P và bà Ngô Thị L1 không đủ căn cứ chứng minh bị cáo lừa đảo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận việc truy tố hai hành vi này hoặc hủy án sơ thẩm để điều tra lại và xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Quá trình khởi tố, điều tra vụ án bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, sau đó bị cáo thay đổi lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội cho rằng đây chỉ là giao dịch dân sự giữa bị cáo với những bị hại khác, hành vi của bị cáo T chỉ là giao không đúng số lượng, chủng loại quần áo mà hai bên đã cam kết, khách hàng có quyền trả lại hàng và bị cáo trả lại tiền. Bị cáo T cho rằng quá trình điều tra, thời gian đầu bị tạm giữ, tạm giam, tinh thần hoảng loạn và bị cán bộ điều tra yêu cầu khai không đúng sự thật mới cho tại ngoại nên bị cáo T mới nhận tội. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa đã thể hiện, thực chất ban đầu Đỗ Thị T đã không có nguồn hàng số lượng lớn với giá rẻ như bị cáo đã cam kết với các bị hại. Việc bị cáo T đã nhiều lần đưa ra các thông tin gian dối, đăng tải các hình ảnh, bài viết về các hàng hóa thông qua các tài khoản Facebook do bị cáo tạo lập để cho bị hại tin tưởng, tưởng đó là thật, từ đó chuyển tiền mua hàng cho bị cáo và bị chiếm đoạt. Số hàng hóa mà bị cáo gửi cho các bị hại không đúng cả về chủng loại, số lượng, chất lượng hàng hóa đã cam kết. Sau khi chiếm đoạt được tiền của các bị hại, bị cáo đã xóa dấu vết hành vi phạm tội của mình bằng cách thu hồi các tin nhắn trao đổi với bị hại và chặn không cho bị hại liên lạc với bị cáo.
Việc bị cáo cho rằng quá trình trình điều tra, thời gian đầu bị tạm giữ, tạm giam, tinh thần hoảng loạn và bị cán bộ điều tra yêu cầu khai không đúng sự thật mới cho tại ngoại nên bị cáo T mới nhận tội. Tuy nhiên, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh nào. Căn cứ vào lời nhận tội ban đầu của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với thời gian, phương thức, vật chứng thu giữ và phù hợp với lời khai của những bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Điều tra viên, cán bộ nhà tạm giữ, tạm giam. Đối với hành vi của bị cáo đối với hai bị hại là bà Phạm Trần Bảo P và bà Ngô Thị L1, qua các chứng cứ trong hồ sơ vụ án thì đã có cơ sở kết luận bị cáo đã đưa ra các thông tin gian dối, sau khi nhận được tiền thì đã chặn liên lạc. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo theo điểm a khoản 3 điều 174 Bộ luật hình sự là đúng. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận một phần hành vi phạm tội nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3] Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Do bị cáo Đỗ Thị T kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự ; Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1, khoản 3 Điều 21, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo;
Tuyên bố bị cáo: Đỗ Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Về hình phạt: Xử phạt Đỗ Thị T 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 đến ngày 13/5/2024 vào thời gian đi thi hành án.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Đỗ Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Lam |
Bản án số 37/2025/HS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 37/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
