TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HS-PT Ngày 06 tháng 3 năm 2025 | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết
Các Thẩm phán: Ông Lâm Thuận Tùng, bà Phan Thị Minh Tâm.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Ngọc Như Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Huỳnh Văn Đ, do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn Đ; kháng cáo của bị hại Võ Văn G; kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 83/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Huỳnh Văn Đ, sinh ngày 04/10/1996 tại huyện T, tỉnh An Giang; nơi thường trú, chỗ ở: ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Tứ Ân H; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị T; vợ Nguyễn Thị Huỳnh M, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn Đ: Bà Lê Lâm T1, Luật sư, Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: số A, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị hại có kháng cáo: Võ Văn G, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang.
Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do phát sinh tranh chấp ranh đất từ trước, khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, Huỳnh Văn Đ bơm nước vào đất ruộng, thuộc ấp V, xã V, huyện T, thì Võ Văn G canh tác đất liền kề ngăn cản, Đ điện thoại cho Huỳnh Văn Đ1 (cha của Đ) biết sự việc, rồi Đ1 lại cự cãi, dùng tay đánh nhau với G nhưng không ai bị thương tích. Một lúc sau, G tức giận lấy 01 cây dao quéo (kim loại dài 43 cm, cán dài 11,5 cm, lưỡi dài 31,5 cm, nơi rộng nhất 6,5 cm) rượt Đ bỏ chạy một đoạn, Đ nhặt 01 khúc cây (dài 1,5 m, đường kính nơi rộng nhất 4,5 cm, nhỏ nhất 2,5 cm) trên đường và truy hô cho Huỳnh Văn G1, Bùi Văn L (anh, em họ của Đ) làm ruộng gần đó can ngăn. Khi này, G đuổi theo đến chỗ của Đ, rồi G cầm dao chém 01 nhát về phía người của Đ, thì bị Đ cầm cây đánh 01 cái vào tay phải làm rơi cây dao, G khom người nhặt cây dao thì bị Đ đánh thêm 01 cái vào đầu gây thương tích. Gì được gia đình đưa đi cấp cứu. Qua làm việc, Đ khai nhận hành vi gây thương tích cho G và giao nộp khúc cây.
Vật chứng thu giữ: 01 khúc cây bạch đàn; 01 cây dao quéo bằng kim loại màu đen, 01 khúc cây bạch đàn; 01 khúc cây bạch đàn; tiền Việt Nam 50.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 514/24/KLTTCT-TTPYngày 29/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, đối với Võ Văn G, kết luận:
- Sẹo vùng đính phải, nằm ngang, kích thước (3.5 x 0.2) cm, là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01% (Không một phần trăm).
- Chấn thương cẳng tay phải: Gãy 1/3 dưới xương quay phải, đã phẫu thuật kết hợp xương, tỷ lệ 10%; Sẹo mổ mặt trước ngoài 1/3 giữa đến 1/3 dưới cẳng tay phải, kích thước (10 x 0.2) cm, tỷ lệ 02%.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên đối với Võ Văn G là 13%, do vật tày gây nên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 83/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ 02 (hai) năm tù. Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 590 Bộ luật Dân sự: Bị cáo Huỳnh Văn Đ có trách nhiệm bồi thường cho ông Võ Văn G số tiền 85.516.000 đồng, bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả 50.000.000 đồng (theo Ủy nhiệm chi số 148 ngày 17/12/2024 của Công an huyện T); bị cáo Huỳnh Văn Đ, còn phải bồi thường thêm cho Võ Văn G số tiền 35.516.000 đồng. Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Huỳnh Văn Đ chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.275.000 đồng (bốn triệu hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí DSST, cộng chung tiền án phí mà bị cáo phải chịu là 4.475.000 đồng. Ngoài ra còn tuyên về phần xử lý vật chứng, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/12/2024, bị cáo Huỳnh Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo;
Ngày 30/12/2024, bị hại Võ Văn G kháng cáo yêu cầu xem xét tăng mức hình phạt đối với bị cáo vì mức hình phạt 02 năm tù là nhẹ so với hành vi phạm tội bị cáo gây ra; đồng thời không đồng ý bản án sơ thẩm tuyên buộc bị cáo bồi thường 85.516.000 đồng, yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại.
Tại Quyết định kháng nghị số: 02/QĐ-VKSAG ngày 16/01/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang có quyết định kháng nghị đối với bản án sơ thẩm về việc xác định án phí dân sự sơ thẩm của vụ án. Đề nghị Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng không buộc bị cáo Huỳnh Văn Đ nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 50.000.000 đồng bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại trước khi mở phiên tòa (quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án).
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Văn Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo với lý do: sau khi phạm tội bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn, bị cáo là lao động chính nuôi các con nhỏ, bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả.
Bị hại Võ Văn G trình bày, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử tăng mức hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Văn Đ; đồng thời thay đổi yêu cầu buộc bị cáo Đ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại 272.386.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang giữ nguyên Quyết định kháng nghị và thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn Đ sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Huỳnh Văn Đ từ 03 tháng đến 06 tháng tù; Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị hại Võ Văn G về yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo và yêu cầu buộc bị cáo Huỳnh Văn Đ2 bồi thường thiệt hại 272.386.000 đồng; Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Huỳnh Văn Đ bồi thường thiệt hại cho bị hại Võ Văn G 10.000.000 đồng. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tuyên bị cáo Huỳnh Văn Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 1.775.800 đồng. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn Đ có quan điểm: Đồng ý kháng nghị của Viện kiểm sát. Đồng thời, yêu cầu xem xét mức hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo, vì quan điểm của đại diện Viện kiểm sát giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có phần nghiêm khắc. Nguyên nhân dẫn đến hậu quả là có một phần lỗi của bị hại Võ Văn G cầm dao rượt và chém về hướng của bị cáo, bị cáo cầm cây đánh vào tay bị hại để ngăn chặn rớt dao, lúc này bị cáo tự vệ do bị dồn nén, không mong muốn hậu quả xảy ra. Bị cáo đã tự nguyện giao nộp 85.516.000 đồng, tự nguyện bồi thường thêm 10.000.000 đồng bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo và gia đình có nhiều đóng góp thiện nguyện cho xã hội, thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách ở địa phương. Về bồi thường thiệt hại, bị hại không đưa ra chứng cứ chứng minh hợp lý. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.
Trong phần đối đáp một lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận tội nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người bào chữa không tranh luận gì, bị cáo có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức:
- Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn Đ, bị hại Võ Văn G làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Đối với quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang được ban hành trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Huỳnh Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Do mâu thuẫn giữa bị cáo Huỳnh Văn Đ và Võ Văn G về việc bơm nước vào đất ruộng. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, tại đất ruộng, thuộc ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, bị cáo Đ điện thoại cho Huỳnh Văn Đ1 (cha của Đ) biết sự việc, Đ1 lại cự cãi và dùng tay đánh nhau với G. Sau đó, G lấy 01 con dao quéo rượt Đ bỏ chạy, Đ nhặt 01 khúc gỗ trên đường và truy hô, G đuổi theo và cầm dao chém 01 nhát về phía người của Đ, Đ cầm cây đánh 01 cái vào tay phải làm rơi cây dao, G khom người nhặt cây dao thì bị Đ đánh thêm 01 cái vào đầu gây thương tích cho Võ Văn G, tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 13%.
Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo của bị cáo HuỳnhVăn Đ3, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự nhân phẩm của con người được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhằm xâm phạm đến sức khỏe của con người. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt đối với bị cáo là có căn cứ, mức hình phạt 02 năm (mức khởi điểm của khung hình phạt quy định) là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Tuy nhiên, trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, đây là lần đầu bị cáo phạm tội, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện giao nộp 50.000.000 đồng; Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền còn lại 35.516.000 đồng; tổng cộng 85.516.000 đồng; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tự nguyện bồi thường thêm số tiền 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả (là tình tiết mới), bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nuôi các con nhỏ, là lao động chính trong gia đình; thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật ở địa phương, bị cáo có cha Huỳnh Văn Đ1 có nhiều thành tích đóng góp cho địa phương nhiều năm liền và được tặng giấy khen.
Xét thấy, nguyên nhân dẫn đến hậu quả là mâu thuẫn cự cãi giữa bị hại Võ Văn G do ông Huỳnh Văn Đ1 (cha ruột bị cáo) đánh nhau bằng tay, nhưng bị hại không kiềm chế được tính nóng nảy của mình, mà dùng dao đuổi theo bị cáo để chém, bị cáo Huỳnh Văn Đ cầm cây đánh vào tay bị hại làm rơi dao, bị hại tiếp tục nhặt dao lên thì bị cáo đánh trúng vào đầu gây thương tích, sự việc xảy ra cũng có một phần lỗi của bị hại; bị hại Võ Văn G cũng khai nhận có một phần lỗi của bị hại.
Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào, nếu không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, cần chấp nhận quan điểm đề nghị của người bào chữa cho bị cáo để cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Đây là cơ hội để bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Yêu cầu kháng cáo của bị hại tăng mức hình phạt đối với bị cáo; yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị hại tăng mức hình phạt đối với bị cáo, như đã phân tích mục [4], nguyên nhân xảy ra hậu quả là do bị hại đã có hành vi trái pháp luật là cầm dao là hung khí nguy hiểm rượt đuổi theo bị cáo nhằm mục đích tấn công bị cáo trước. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị hại về tăng mức hình phạt đối với bị cáo là không có căn cứ, Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị hại, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 272.386.000 đồng.
Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét chiết tính và điều chỉnh mức chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật và thiệt hại thực tế, gồm: chi phí điều trị 23.500.000 đồng, tiền xe chuyển viện, tái khám 2.000.000 đồng, mất thu nhập của người bệnh trong thời gian nhập viện 5.336.000 đồng, mất thu nhập của người nuôi bệnh 1.600.000 đồng, mất thu nhập của người trong thời gian dưỡng bệnh 40.020.000 đồng, bồi dưỡng sức khỏe 1.360.000 đồng, tổn thất tinh thần 2.340.000 đồng (05 lần mức lương cơ sở); tổng cộng 85.516.000 đồng, buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại Võ Văn G là có căn cứ, phù hợp Điều 584, Điều 590 Bộ luật dân sự. Bị hại Võ Văn G không đưa ra được chứng cứ chứng minh gì khác. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị hại đối với bị cáo về bồi thường số tiền 272.386.000 đồng, không được Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Huỳnh Văn Đ bồi thường thêm cho bị hại Võ Văn G 10.000.000 đồng.
[6] Đối với nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang về việc xác định án phí dân sự sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tòa án cấp sơ tuyên buộc bị cáo Huỳnh Văn Đ có trách nhiệm bồi thường cho ông Võ Văn G số tiền 85.516.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện nộp 50.000.000 đồng bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa. Bị cáo còn phải bồi thường thêm cho bị hại 35.516.000 đồng nên bị cáo phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 1.775.800 đồng, nhưng cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 4.275.000 đồng là chưa đúng.
Tại điểm g khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Trường hợp bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa thì không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã tự nguyện nộp”.
Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang theo hướng không buộc bị cáo nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 50.000.000 đồng là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiển sát nhân dân dân tỉnh An Giang.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo Huỳnh Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; yêu cầu kháng cáo của bị hại Võ Văn G không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn Đ; Không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị hại Võ Văn G; Chấp nhận nội dung quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 83/2024/HS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (Bốn) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Huỳnh Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 594, Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Buộc bị cáo Huỳnh Văn Đ có trách nhiệm bồi thường cho ông Võ Văn G số tiền 85.516.000 đồng (T2 mươi lăm triệu năm trăm mười sáu nghìn) đồng; Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Huỳnh Văn Đ tự nguyện bồi thường thêm số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng cho bị hại Võ Văn G; tổng cộng 95.516.000 (Chín mươi lăm triệu năm trăm mười sáu nghìn) đồng. Tiếp tục tạm giữ số tiền 85.516.000 đồng do bị cáo tự nguyện bồi thường (theo giấy ủy nhiệm chi vào số tài khoản 39490107569100000 ngày 17/12/2024 và biên lai thu số 0005290 ngày 25/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn) đảm bảo cho việc thi hành án.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Huỳnh Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.775.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm; tổng cộng 1.975.800 (Một triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn tám trăm) đồng.
Bị cáo Huỳnh Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị hại Võ Văn G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 37/2025/HS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 37/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
