Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30-10-2025

V/v: “Ly hôn, nuôi con chung
giữa chị Nguyệt và anh Trường”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hoàng Giang

Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Tiến; Ông Nguyễn Minh Khâm

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình.

Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 58/2025/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” giữa:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh ngày 18/02/1996, căn cước công dân số: [...], do cục C về TTXH cấp ngày 18/4/2023.

Nơi thường trú: Thôn V, phường H, tỉnh Ninh Bình (Thôn V, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ).

Nơi ở hiện nay: Xóm B, T, phường H, tỉnh Ninh Bình (Thôn V, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 13/7/1993, căn cước công dân số: [...], cấp ngày 10/5/2021

Nơi thường trú: Thôn V, phường H, tỉnh Ninh Bình (Thôn V, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ).

Tại phiên tòa: Chị N, anh T vắng mặt (đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 9 năm 2025, bản tự khai ngày 02 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là phường H, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 11 tháng 12 năm 2015. Thời gian đầu cuộc sống bình thường, từ năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm, anh T không quan tâm đến gia đình, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm giữa chị với anh T không còn, không thể chung sống cùng nhau được nữa. Chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh T.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Phạm Kiều O, sinh ngày 20/12/2013, Nguyễn Phạm Kim O1, sinh ngày 10/01/2021 hiện con chung đang ở cùng anh T, sau ly hôn chị nhất trí để anh T tiếp tục nuôi con chung.

- Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 08 tháng 10 năm 2025, bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày: Thời gian kết hôn đúng như chị Phạm Thị N khai.

- Về tình cảm anh xác định vợ chồng đã mâu thuẫn, chị N bỏ về mẹ đẻ ở từ năm 2021 cho đến nay, nay chị N đề nghị ly hôn anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh nhất trí ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Phạm Kiều O, sinh ngày 20/12/2013, Nguyễn Phạm Kim O1, sinh ngày 10/01/2021 hiện con chung đang ở cùng anh T. Sau ly hôn anh yêu cầu được nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung, công nợ: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn được biết. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70; 71, 72 BLTTDS.

Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 BLTTDS.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là phường H, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 11 tháng 12 năm 2015. Như vậy cuộc hôn nhân này là hợp pháp theo quy định Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Quá trình chung sống giữa chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T đã phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; anh Nguyễn Văn T nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị N, nên cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị N và anh T để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: HĐXX xét thấy, tại phiên tòa chị Phạm Thị N, anh Nguyễn Văn T vắng mặt nhưng đều có lời khai trình bày về con chung: Chị N nhất trí giao con chung cho anh T nuôi dưỡng, chăm sóc; anh T yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con chung, con chung có nguyện vọng được ở với anh T. Do vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của con chung cũng như sự nhất trí của đương sự nên tiếp tục giao cháu Nguyễn Phạm Kiều O, sinh ngày 20/12/2013, Nguyễn Phạm Kim O1, sinh ngày 10/01/2021 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh T tự nguyện không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên cần được chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[5] Về án phí: Chị Phạm Thị N phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, 55, 71, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Toà án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phạm Kiều O, sinh ngày 20/12/2013 và Nguyễn Phạm Kim O1, sinh ngày 10/01/2021 cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung trưởng thành, tự

lập, có khả năng lao động được; hiện 02 con chung đang ở cùng anh T. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Chị Phạm Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị N phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001133 ngày 02 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, chị Phạm Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị N, anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của BLTTDS.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND + VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 9 - Ninh Bình;
  • - Phòng THADS khu vực 9 - Ninh Bình;
  • - UBND phường Hồng Quang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hoàng Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị N - Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger