Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST

Ngày 28-11-2025

“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Liệp
  2. Ông Nguyễn Hoàng Minh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn - Thư ký của HToà án nhân dân Khu vực 11-Đồng Tháp.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11-Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Đặng Thị N, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Bị đơn: Bùi Văn T, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn và bị đơn xin vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/10/2025 và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 04/11/2025, chị Đặng Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị N và anh T tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau và được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới. Sau khi cưới, anh, chị chung sống đến nay nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu, đến tháng 10/2023 thì phát sinh mâu thuẩn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nguyên nhân do không hợp tính tình dẫn đến bất hòa, từ đó mâu thuẩn trầm trọng và đã sống ly thân từ đó đến nay, thời gian sống ly thân không hàn gắn được tình cảm với nhau. Nay chị N yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về nuôi con: Chị N và anh T có 02 con chung tên Bùi T1, sinh ngày 14/02/2005 và Bùi Văn Q, sinh năm 05/11/2014, hiện nay cháu Q hiện đang sống chung với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Bùi Văn Q, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Bùi T1 hiện nay đã trưởng thành, tự lao động được sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản: Chị N xác định chị N và anh T không có tài sản chung.

Về nợ chung: Chị N xác định chị N và anh T không có nợ chung.

Văn bản ý kiến ngày 04/11/2025 và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 04/11/2025, anh Bùi Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh T và chị N có tìm hiểu nhau một thời gian, sau đó được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới và chung sống đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Anh T và chị N chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu, đến tháng 10/2023 thì phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống do bất đồng ý kiến, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn nên tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc. Do đó, anh T và chị N đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay và trong thời gian sống ly thân cả hai không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nay anh T đồng ý ly hôn với chị N.

Về nuôi con: Anh T và chị N có 02 con chung tên Bùi T1, sinh ngày 14/02/2005 và Bùi Văn Q, sinh năm 05/11/2014, hiện nay cháu Q hiện đang sống chung với chị N. Khi ly hôn, anh T đồng ý giao con chung tên Q cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không tự nguyện dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Bùi T1 hiện nay đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản: Anh T xác định anh T và chị N không có tài sản chung.

Về nợ chung: Anh T xác định anh T và chị N không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh T. Anh T có địa chỉ tại xã T, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, địa chỉ nơi bị đơn cư trú, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 11-Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải, Đối thoại tại Toà án; các Điều 3, 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Toà án nhân dân cấp Tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp Tỉnh, Toà án nhân dân khu vực

[1.2] Chị N và anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên toà và có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt chị N và anh Tiếp theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Khoảng năm 2004 chị N và anh T sống chung với nhau trên cơ sở tự nguyện, cho đến khi phát sinh mâu thuẫn vào tháng 10/2023 có đủ điều kiện kết hôn tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình nhưng không đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, quan hệ hôn nhân của chị N và anh T là quan hệ hôn nhân không hợp pháp. Chị N khởi kiện xin ly hôn được anh T đồng ý là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị N và anh T.

[2.2] Về nuôi con: Chị N và anh T có 02 con chung tên Bùi T1, sinh ngày 14/02/2005 và Bùi Văn Q, sinh năm 05/11/2014. Xét thấy, căn cứ Biên bản hoà giải ngày 04/11/2025 chị N và anh T thống nhất thoả thuận giao con chung tên Bùi Văn Q, sinh năm 05/11/2014 cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung phù hợp với Văn bản ý kiến ngày 04/11/2025 của cháu Bùi Văn Q có nguyện vọng sống với chị N. Đồng thời, hiện nay cháu Q đang sống chung với chị N, chị N nuôi dưỡng cháu Q phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của chị N và anh T, giao cháu Q cho chị N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung, đồng thời anh T cũng không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Đối với con chung tên Bùi T1 hiện nay đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về chia tài sản: Chị N và anh T thống nhất trình bày trong quá trình chung sống chị N và anh T không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử xác định không có.

[2.4] Về nợ chung: Chị N và anh T thống nhất trình bày chị N và anh T không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải, Đối thoại tại Toà án; các Điều 3, 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Toà án nhân dân cấp Tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp Tỉnh, Toà án nhân dân khu vực;

Căn cứ khoản 1 Điều 9; khoản 2 Điều 53; các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đặng Thị N với anh Bùi Văn T.
  2. Về nuôi con:

    Giao con chung tên Bùi Văn Q, sinh năm 05/11/2014 cho chị Đặng Thị N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng (hiện nay cháu Q đang sống chung với chị N).

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thị N không yêu cầu anh Bùi Văn T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Bùi Văn T không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về chia tài sản: Không có.
  4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Chị Đặng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006917 ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Chị N đã nộp xong án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  6. Chị N, anh T có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND T. Đồng Tháp;
  • - VKSND Khu vực 11;
  • - THADS tỉnh Đồng Tháp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Huỳnh Kim Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN (NHI-TIẾP)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger