|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27/6/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN - TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Biển
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Ngô Văn Hoàn
- Nguyễn Thị Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An tham gia phiên toà: Ông Bế Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nông Minh T – sinh năm 1996
HKTT: Nà Danh, xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
Nơi ở hiện nay: Đội 10 A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương .Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Hoàng Duy N – sinh năm 1994
Nơi cư trú: N, xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nông Minh T trình bày:
Chị T và anh N xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng ngày 28/11/2014. Sau khi kết hôn chị T và anh N chung sống hòa thuận hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2022 đầu năm 2023 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do lối sống, tính tình không hợp, không thống nhất được việc làm ăn cũng như nuôi dạy con cái. Sau 02 năm sống ly thân, anh N cũng không quan tâm, hỏi thăm chị T. Nay xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể sống chung nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hoàng Duy N.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Bảo A, sinh ngày 15/12/2014 (giới tính nam) hiện sống cùng bố và Hoàng Minh K, sinh ngày 02/3/2020 (giới tính nam) đang sống cùng mẹ. Khi ly hôn chị T đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Hoàng Minh K, anh Hoàng Duy N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con Hoàng Bảo A, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn Hoàng Duy N trình bày:
Anh N và chị T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 28/11/2014 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Đến khoảng cuối năm 2023 vợ chồng bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, sau đó không sống cùng nhau. Anh Hoàng Duy N đồng ý ly hôn với chị Nông Minh T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung, con lớn Hoàng Bảo A sinh ngày 15/12/2015 hiện đang sống cùng bố. Con nhỏ là Hoàng Minh K sinh ngày 02/3/2020 hiện đang sống cùng mẹ. Khi ly hôn, mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con Hoàng Minh K, bố trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con Hoàng Bảo A đến khi con đủ 18 tuổi, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con, cả hai sẽ tự chăm sóc con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Nông Minh T và bị đơn Hoàng Duy N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
+ Chị Nông Minh T và anh Hoàng Duy N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Quá trình chung sống đã nảy sinh mâu thuẫn, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, chị T và anh N đều nhất trí ly hôn. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nông Minh T.
+ Về con chung: Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận thỏa thuận của các đương sự: giao con Hoàng Bảo A cho anh Hoàng Duy N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Hoàng Minh K cho chị Nông Minh T trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Hoàng Duy N trú tại N, xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn Nông Minh T và bị đơn Hoàng Duy N vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nông Minh T và anh Hoàng Duy N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 30/2014 quyển số 01/2014 ngày 28/11/2014 nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N là hợp pháp.
Chị T cho rằng sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2022, năm 2023 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và nuôi dạy con cái. Chị T và anh N đã ly thân từ tháng 2023 đến nay và không còn liên lạc với nhau. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn. Anh N cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên nhất trí ly hôn. Xét thấy hai bên đương sự đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và cùng nhất trí ly hôn. Do vậy, việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Chị Nông Minh T và anh Hoàng Duy N có 02 con chung là Hoàng Bảo A, sinh ngày 15/12/2014 và Hoàng Minh K, sinh ngày 02/3/2020. Hiện nay cháu K đang sống cùng mẹ, cháu Bảo A sống cùng bố. Căn cứ nguyện vọng của cháu Hoàng Bảo A và điều kiện nuôi dưỡng của hai bên, chị Nông Minh T và anh Hoàng Duy N thống nhất giao cháu Hoàng Bảo A cho anh Hoàng Duy N trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Hoàng Minh K cho chị Nông Minh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nông Minh T và anh Hoàng Duy N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Vì quyền và lợi ích hợp pháp của các con chung chưa thành niên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự cùng xác nhận không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, chị Nông Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Minh T
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Minh T được ly hôn với anh Hoàng Duy N.
- Về con chung: Giao con Hoàng Minh K sinh ngày 02/3/2020 cho chị Nông Minh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi; giao con Hoàng Bảo A sinh ngày 15/12/2014 cho anh Hoàng Duy N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 82
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Vì quyền và lợi ích hợp pháp của các con chung chưa thành niên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên đương sự xác nhận không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Nông Minh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002125 ngày 17/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Xác nhận chị Nông Minh T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nông Thị Biển |
Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN - TỈNH CAO BẰNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn, nuôi con chung
