Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HNGĐ - ST.

Ngày: 27/5/2025.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” .

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thưởng

Bà Mai Thị Tiếp

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2024/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 89/2025/QĐST - HNGĐ ngày 08/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H - Sinh năm: 1993.

Nơi ĐKNKTT tại: SN E đường B, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện tại: SN 05/32/149 đường N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Anh Lê Việt A - Sinh năm: 1992

Nơi cư trú: SN E đường B, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa hôm nay có mặt chị H, vắng mặt anh Việt A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và được bổ sung bằng lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Việt A kết hôn với nhau năm 2019, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại SN E đường B, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được 04 năm, thì đến năm 2023 phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, cứ mỗi lần đi uống rượu về là anh Việt A chửi bới và đánh đập chị vô cớ, nên vợ chồng cắt đứt quan hệ tình cảm và ly thân nhau từ cuối tháng 7/2024 nhưng vẫn sống chung cùng bố mẹ anh Việt A nhưng không ai quan tâm và có trách nhiệm đến nhau. Đến tháng 12/2024 chị thuê nhà ra ở riêng tại SN 05/32/149 đường N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Việt A.

- Về con chung: Chị và anh Việt A có 01 con chung là cháu Lê Nam P sinh ngày 18/01/2020. Tại đơn khởi kiện chị có nguyện vọng xin được nuôi cháu P và yêu cầu anh Việt A phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01/2025 cho đến khi cháu P thành niên. Quá trình giải quyết, chị H có bổ sung bản tự khai và tại phiên toà hôm nay, chị không yêu cầu anh Việt A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai bị đơn anh Lê Việt A trình bày:

Về hôn nhân: Về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn như chị H trình bày là đúng. Còn nguyên nhân mâu thuẩn xuất phát từ kinh tế, do vợ chồng có tiền gửi tiết kiệm Ngân hàng, chị H tự ý rút tiền Ngân hàng ra cho chị gái của chị H vay mà không được sự đồng ý của anh, nên vợ chồng mới xảy ra mâu thuẩn trầm trọng. Nay chị H có đơn khởi kiện ly hôn, anh cũng xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh cũng đồng ý ly hôn để anh được ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh và chị H thống nhất vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Nam P sinh ngày 18/01/2020. Ly hôn chị H xin được nuôi con và yêu cầu anh phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng anh không đồng ý, vì chị H không có nhà cửa phải đi thuê nhà ở và hiện nay cháu P đang ở với anh Việt A và bố mẹ anh. Nay ly hôn anh xin được nuôi con và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

* Tại phiên tòa hôm nay: Chị Đỗ Thị H vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn anh Lê Việt A; về con cái chị xin được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh Việt A cấp dưỡng tiền nuôi con chung; về tài sản và công nợ chị không yêu cầu giải quyết. Anh Lê Việt A vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Toà án và đương sự đã tuân thủ đúng theo qui định của Luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết cũng như xét xử vụ án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Toà án căn cứ vào khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227 của BLTTDS để xét xử.

Về đường lối: Đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81,82, 83 của Luật HNGĐ. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Lê Việt A. Về con cái: Giao cháu Lê Nam P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Lê Việt A cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và công bố các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, bị đơn anh Lê Việt A cư trú tại thành phố T. Do đó Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Anh Lê Việt A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

- Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị H và anh Lê Việt A kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị đều thừa nhận vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẩn và đã sống ly thân và không còn tình cảm. Kết quả thu thập chứng cứ tại địa phương thể hiện: Anh chị chung sống xảy ra mâu thuẩn như thế nào địa phương không nắm rõ vì anh chị và gia đình anh Việt A không báo cáo. Tuy nhiên từ đầu năm 2024 đến nay chị H không còn sinh sống tại địa phương và chị ở đâu thì chính quyền địa phương không nắm được.

Tại phiên toà chị H vẫn cương quyết ly hôn, còn anh Việt A đã được Toà án tống đạt hợp lệ để tham gia phiên toà nhưng anh Việt A không có mặt để trình bày quan điểm của mình, nhưng tại bản tự khai và biên bản hoà giải anh Việt A đồng ý ly hôn. Xét thấy mâu thuẩn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được, có kéo dài cũng không đem lại hạnh phúc, nghĩ nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật HNGĐ, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị H xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Lê Việt A.

- Về con cái: Quá trình giải quyết vụ án chị H và anh Việt A đều thừa nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Nam P sinh ngày 18/01/2020. Ly hôn quan điểm của chị H và anh Việt A đều có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Xét việc giao con cho ai nuôi là căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu và hiện tại cháu đang P đang còn nhỏ và rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Mặt khác chị H và anh Việt A đều có việc làm, thu nhập ổn định, nhưng quá trình giải quyết tại lần hoà giải lần thứ nhất anh Việt A có quan điểm xin nuôi con, nhưng Toà án tống đạt hợp lệ yêu cầu anh Việt A có mặt để tiến hành hoà giải lần thứ hai để cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh điều kiện nuôi con và thu nhập, nhưng anh Việt A không tham gia hoà giải và không cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu xin được nuôi con. Còn chị Đỗ Thị H xuất trình được chứng cứ chứng minh được thu nhập và nơi ở ổn định để có đủ điều kiện để chăm sóc con, vì hiện nay cháu đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 81,82,83 của Luật Hôn nhân gia đình, giao cháu Lê Nam P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Việt A phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản và công nợ: Chị H và anh Việt A không yêu cầu Tòa án giải quyết, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị H và anh Việt A, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H phải chịu 300.000đ án phí DSST.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Lê Việt A.

- Về con chung: Công nhận cháu Lê Nam P sinh ngày 18/01/2020 là con chung của chị Đỗ Thị H và anh Lê Việt A. Giao cháu Lê Nam P cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Việt A phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh Việt A có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản, công nợ chung: Chấp nhận sự tự nguyện của chị H và anh Việt A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị H nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số BLTU/24/0001961 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá (chị H đã nộp đủ án phí DSST).

Quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn chị Đỗ Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn anh Lê Việt A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Chi cục T;
  • - VKSND TPTH;
  • - UBND phường Đ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HNGĐ - ST. ngày 27/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 37/2025/HNGĐ - ST.
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger