|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 26/6/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Văn Hòa và bà Nguyễn Thị Thanh
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị An- Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 95/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Thị M, sinh năm 1991. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Địa chỉ: Làng T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- - Bị đơn: Anh Trương Văn N, sinh năm 1989. ( vắng mặt)
- Địa chỉ: Làng T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị M và anh Trương Văn N có đăng ký kết hôn vào ngày 02 tháng 3 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và vợ, chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2025 đến nay. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng nên đề nghị được ly hôn với anh Trương Văn N.
Về con chung: chị Lê Thị M và anh Trương Văn N có 02 con chung là cháu Trương Văn Đan H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2009 và cháu Trương Thị Thu H1, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2015. Nay ly hôn chị M có nguyện vọng để anh N nuôi dưỡng cả hai con chung và chị sẽ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N mỗi tháng 1.000.000 đồng đối với cháu Trương Văn Đan H và 1.000.000 đồng đối với cháu Trương Thị Thu H1.
Về tài sản chung, nợ chung: chị Lê Thị M tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản khai anh Trương Văn N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh Trương Văn N và chị Lê Thị M có đăng ký kết hôn vào ngày 02 tháng 3 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng không tránh khỏi những mâu thuẫn nhưng anh thấy vợ chồng vẫn bình thường, chị M đi làm năm từ năm 2024 về làm đơn ly hôn. Anh nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên đề nghị Toà án hoà giải và không đồng ý ly hôn.
Về con chung: anh Trương Văn N và chị Lê Thị M có 02 con chung là cháu Trương Văn Đan H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2009 và cháu Trương Thị Thu H1, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2015. Nếu ly hôn thì nguyện vọng của anh là được nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: anh Trương Văn N tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Có mặt tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và của Hội đồng xét xử đã làm đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật, đúng thời gian và trình tự thu thập chứng cứ của đương sự. Đối với nguyên đơn đã chấp hành theo quy định của pháp luật, bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa 02 lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị M là cho ly hôn với anh Trương Văn N; về nuôi con đề nghị giao hai con chung là cháu Trương Văn Đan H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2009 và cháu Trương Thị Thu H1, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2015 cho anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành; Ghi nhận việc chị M tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N mỗi tháng 1.000.000 đồng đối với cháu Trương Văn Đan H và 1.000.000 đồng đối với cháu Trương Thị Thu H1 cho đến lúc các cháu thành niên; Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị M yêu cầu ly hôn với anh Trương Văn N có hộ khẩu tại làng T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 - Bộ luật tố tụng dân sự;
[2]. Về sự vắng mặt nguyên đơn và bị đơn: chị Lê Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lê Thị M theo quy định tại điều 228 – Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trương Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần tới phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Trương Văn N, theo quy định tại điều 227 và điều 228 – Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: hôn nhân giữa chị Lê Thị M và anh Trương Văn N là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ, chồng sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau và vợ chồng sống đã ly thân nhau từ tháng 02 năm 2025 đến nay. Nay chị M không còn tình cảm với anh N và yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh N. Quá trình giải quyết vụ án anh N mong muốn vợ, chồng hòa giải về đoàn tụ nhưng anh N không đưa ra phương án để vợ, chồng đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải nhưng anh N vắng mặt không có lý do. Xét mâu thuẫn như vậy là trầm trọng kéo dài, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị M là cho chị Lê Thị M được ly hôn anh Trương Văn N.
[4] Về con chung: Chị Lê Thị M và anh Trương Văn N có 02 con chung là cháu Trương Văn Đan H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2009 và cháu Trương Thị Thu H1, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2015. Ly hôn chị M có nguyện vọng muốn để anh N nuôi dưỡng 02 con chung vì anh N có chỗ ở và kinh tế ổn định hơn chị M và chị M sẽ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn M1 tháng 1.000.000 đồng đối với cháu Trương Văn Đan H và 1.000.000 đồng đối với cháu Trương Thị Thu H1.
Tại bản tự khai anh N trình bày có nguyện vọng muốn nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung. Quá trình chị M và anh N ly thân với nhau thì 02 con chung sống cùng với anh N, được đảm bảo các điều kiện về chỗ ở, sinh hoạt và học tập. Xét thấy giao 02 con chung là cháu Trương Văn Đan H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2009 và cháu Trương Thị Thu H1, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2015 cho anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành là phù hợp. Chị M có nguyện vọng cấp dưỡng nuôi 02 con chung cho anh N là hoàn toàn tự nguyện và chính đáng nên cần ghi nhận việc chị M tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N mỗi tháng 1.000.000 đồng đối với cháu Trương Văn Đan H và 1.000.000 đồng đối với cháu Trương Thị Thu H1 .
[6]. Về quan hệ tài sản: chị Lê Thị M và anh Trương Văn N không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[7].Về án phí: áp dụng điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc nguyên đơn chị Lê Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 - Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116 và Điều 117 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/20106 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị M và anh Trương Văn N.
- Về nuôi con chung: giao 02 con chung là cháu Trương Văn Đan H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2009 và cháu Trương Thị Thu H1, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2015 cho anh Trương Văn N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.
Ghi nhận việc chị Lê Thị M tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trương Văn N mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng) đối với cháu Trương Văn Đan H và 1.000.000 đồng ( một triệu đồng) đối với cháu Trương Thị Thu H1, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2025 cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Chị Lê Thị M có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quan hệ tài sản: các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí: chị Lê Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con. Chị Lê Thị M được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012613, ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn nên chị Lê Thị M còn phải nộp thêm số tiền án phí còn thiếu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Thanh |
Bản án số 37/2025/HNGĐ - ST ngày 26/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
