|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26/6/2025 V/v “Ly hôn, nuôi con chung”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quí Hùng
Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 350/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HNGĐ 16/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu T, sinh năm 2001
Nơi đăng ký thường trú: Thôn Q, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân V, sinh năm 1995
Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và tại bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thu T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Xuân V đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 22, ngày 08/5/2019. Quá trình chung sống ông bà không có tiếng nói chung, thường xuyên kình cãi về các vấn đề trong cuộc sống và đã sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay, bà không còn tình cảm với ông V, mối quan hệ giữa ông bà không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông V.
Về con chung: Bà và ông V có 01 (một) con chung là Nguyễn Xuân T1 sinh ngày 13/12/2018. Con chung từ trước đến nay vẫn do bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Vì vậy bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn, ông Nguyễn Xuân V: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn, và trong quá trình giải quyết vụ án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần, đã thông báo tìm kiếm ông V trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng ông V vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như không thể tiến hành hòa giải được.
* Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Xét mâu thuẫn giữa bà và ông V là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở chấp nhận. Ông V và bà T có một con chung là Nguyễn Xuân T1 sinh ngày 13/12/2018. Cháu T1 hiện đang sống cùng bà T, cháu còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ, nên giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con, phù hợp với qui định của pháp luật. Tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Xuân V, nhưng ông V đều vắng mặt không có lý do; nguyên đơn bà Nguyễn Thu T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thu T và ông Nguyễn Xuân V tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 08/5/2019 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo lời trình bày của bà T thì giữa bà và ông V trong quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, tranh cãi về quan điểm sống và tiền bạc, ông bà đã sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo qui định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” và “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác...”. Việc bà T và ông V có mâu thuẫn, tranh cãi dẫn đến việc ông bà sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay mà không có sự thỏa thuận đồng ý của hai bên là đã có sự vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho tình cảm vợ chồng không được hàn gắn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án, tại thông báo có nêu rõ yêu cầu khởi kiện và những tài liệu chứng cứ mà bà T đã giao nộp cho Tòa án, nhiều lần niêm yết giấy triệu tập tại nơi cư trú cuối cùng của ông V, đồng thời thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để ông V đến Tòa án làm việc, trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con của bà T, cũng như thông báo để ông V đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, nhưng ông V đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
[3] Về con chung: Bà Nguyễn Thu T và ông Nguyễn Xuân V có 01 (một) con chung là Nguyễn Xuân T1 sinh ngày 13/12/2018. Cháu T1 còn nhỏ nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ, hiện nay cháu đang sống chung với mẹ nên yêu cầu của bà T về việc trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến tuổi trưởng thành là chính đáng, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bà T.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thu T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 và các điều 227, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thu T được ly hôn với ông Nguyễn Xuân V.
- Giao con chung Nguyễn Xuân T1 sinh ngày 13/12/2018 cho bà Nguyễn Thu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi tuổi trưởng thành. Ông V không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không yêu cầu.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở; đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Vì lợi ích của con, khi cần thiết ông V, bà T có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.
- Bà Nguyễn Thu T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008189 ngày 19/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm. Bà T đã nộp đủ án phí.
- Bà Nguyễn Thu T, ông Nguyễn Xuân V được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Tú Vinh |
Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
