Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 5 -2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Dung

Bà Nguyễn Thị Phương Thúy

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXX-ST ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nông Thị T, sinh năm 1987
  2. Địa chỉ thường trú: Xóm A, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên

    Địa chỉ hiện nay: Phường A, quận S, tỉnh Saitama, Nhật Bản (vắng mặt)

  3. Bị đơn: Anh Trần Đình T1, sinh năm 1984
  4. Địa chỉ thường trú: Xóm A, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Hiện nay đang ở Nhật Bản (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Nông Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Đình T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc tại xóm A, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên cùng bố mẹ anh T1. Được hơn một năm, anh chị cùng đi làm trong miền nam, sau đó về tỉnh Bắc Ninh làm việc. Đến tháng 3/2017 chị đi lao động tại Nhật Bản, đến tháng 11/2019, anh T1 cũng đi Nhật Bản để lao động, tuy nhiên anh chị không ở cùng nhau, mỗi người làm ở một nơi. Từ khi sang Nhật Bản, anh chị không có hướng đi chung, không còn tình cảm, suốt 9 năm kết hôn, anh chị không có con chung, chị muốn can thiệp các biện pháp để sinh con hoặc xin con nuôi nhưng anh T1 không đồng ý. Nay chị xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 09/5/2025 giữa Tòa án và bà Phạm Thị V, sinh năm 1951, địa chỉ: Xóm A, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên dưới sự chứng kiến của trưởng xóm, bà V xác định: Anh Trần Đình T1 là con trai của bà. Anh T1 hiện nay đang làm việc ở Nhật Bản. Bà vẫn thường xuyên liên hệ với anh T1 qua điện thoại nhưng bà không biết địa chỉ hiện nay của anh T1 ở Nhật Bản nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh T1 biết việc chị T có đơn xin ly hôn, anh T1 biết và nhất trí ly hôn với chị T. Về con chung: không có. Về tài sản chung, nợ chung không có.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng: Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo quy định của BLTTDS: Tiếp nhận đơn, thông báo nộp tạm ứng án phí, thông báo thụ lý vụ án và tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, 37, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nông Thị T, cho chị T được ly hôn với anh Trần Đình T1. Về con chung, tài sản chung, nợ chung xác định không có nên không giải quyết. Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nông Thị Thế L nguyên đơn có địa chỉ thường trú tại tại xóm A, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Hiện nay đang ở Nhật Bản. Anh Trần Đình T1 trước khi đi Nhật Bản có nơi thường trú tại xóm A, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ của chị T đều có xác nhận của Đại sự quán nước CHXHCN Việt Nam tại Nhật Bản. Do vậy, có đủ cơ sở xác định, nội dung các văn bản của chị T nộp gửi cho Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là đúng ý chí, nguyện vọng của chị T. Anh Trần Đình T1 là bị đơn có địa chỉ thường trú tại tại xóm A, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Hiện nay đang ở Nhật Bản. Căn cứ công văn số 1212/PQLXNC (Đ1) ngày 10/4/2025 của Phòng Q Công an tỉnh T cung cấp. Anh T1 đã xuất cảnh ngày 18/9/2022 qua của khẩu Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Chị T và anh T1 đều đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Nông Thị T và anh Trần Đình T1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc. Đến tháng 3/2017 chị T đi lao động tại Nhật Bản, đến tháng 11/2019, anh T1 cũng đi Nhật Bản để lao động, tuy nhiên anh chị không ở cùng nhau, mỗi người làm ở một nơi. Từ khi sang Nhật Bản, anh chị không có hướng đi chung, không còn tình cảm. Chị T xin ly hôn, anh T1 nhất trí ly hôn với chị T. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nông Thị T và anh Trần Đình T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đều nhất trí ly hôn, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh Trần Đình T1 là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.

[3] Về con chung: Không có.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh T1 không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[6] Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; 56; Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nông Thị T đối với anh Trần Đình T1 .

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nông Thị T được ly hôn anh Trần Đình T1.
  2. Về con chung: Không có.
  3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.
  4. Án phí: Chị Nông Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000271 ngày 28/3/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

Chị Nông Thị T và anh Trần Đình T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - UBND xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lê Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 37 T T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger