Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK


Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/11/2025

V/v: “Ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bày và ông Nguyễn Bá Tòng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thái – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 73/2025/TLST-HNGĐ ngày 13/10/2025 về việc: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Xuân C, sinh năm 1993; nơi cư trú: Khu phố U, phường H, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Phạm Thị L, sinh năm 2002; nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk.

Hai bên đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/9/2025 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân C trình bày:

- Quan hệ hôn nhân: Ông và bà L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2021 tại UBND phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk); giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 01/6/2021. Tuy nhiên cuộc sống hôn nhân có nhiều bất đồng, cả hai không tìm được tiếng nói chung trong gia đình. Đến nay, mâu thuẫn đã ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, cả hai không thể duy trì mối quan hệ hệ hôn nhân không hạnh phúc, tiếp tục chỉ làm khổ hai người nên yêu cầu ly hôn với bà L.

- Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Phúc A, sinh ngày 22/11/2021 và Nguyễn Ngọc Bảo V, sinh ngày 24/9/2023; ông C yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Phúc A, giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo V cho bà L tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Cầu tự N tìm hiểu và kết hôn vào năm 2021, đăng ký kết hôn và được UBND phường H (nay là UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 01/6/2021. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, hai bên thường xuyên xảy ra xích mích cãi vã. Cả hai đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên thống nhất với yêu cầu ly hôn của anh C để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Phúc A, sinh ngày 22/11/2021 và Nguyễn Ngọc Bảo V, sinh ngày 24/9/2023. Bà L thống nhất giao con chung Nguyễn Phúc A cho ông C, giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo V cho bà tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa

- Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu, ý kiến đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả thảo luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Xuân C khởi kiện xin ly hôn bà Phạm Thị L, có đăng ký thường trú tại khu phố B, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Do đó, Toà án xét xử vắng mặt hai bên đương sự theo quy định Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Xuân C và bà Phạm Thị L tự nguyện kết hôn và được UBND phường H (nay là UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 01/6/2021, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo trình bày của cả hai bên, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã; đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Bà L cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, thống nhất ly hôn theo yêu cầu của ông C. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, ông Nguyễn Xuân C được ly hôn với bà Phạm Thị L để đảm bảo cho các bên có cuộc sống riêng ổn định.

[2.2] Về con chung: Ông C và bà L có 02 con chung là Nguyễn Phúc A, sinh ngày 22/11/2021 và Nguyễn Ngọc Bảo V, sinh ngày 24/9/2023. Ông C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu A; bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu V. Xét thấy các cháu đều còn nhỏ, cần có sự chăm sóc trực tiếp của cha mẹ; việc mỗi bên trực tiếp nuôi một cháu phù hợp với điều kiện chăm sóc thực tế và nguyện vọng của cha mẹ, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu. Do đó, cần giao cho ông Nguyễn Xuân C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phúc A; giao cho bà Phạm Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Bảo V là phù hợp. Hai bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Ông C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, ông Nguyễn Xuân C được ly hôn với Phạm Thị Lệ .
  2. Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Xuân C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 22/11/2021; giao cho bà Phạm Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Bảo V là phù hợp. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở; khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Ông Nguyễn Xuân C phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, đã nộp đủ theo Biên lai số 0002175 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND khu vực 12 – Đắk Lắk;
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Hoà Hiệp;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Võ Thị Tuyết Trinh

Các Hội thẩm nhân dân



Lê Thanh Khảnh Nguyễn Văn T

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa



Võ Thị Tuyết T1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 25/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk về ly hôn

  • Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐƯƠNG SỰ VẮNG MẶT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger