|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37 /2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/6/2025 V/v. Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI– THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Quốc Q
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Quang Ngọc. 2. Ông Lưu Bá Ngọc.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Bá Minh Huy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Thọ Thuận-Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Oai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 103/2025/TLST- HNGĐ ngày 29/4/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QÐST- HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1996
Trú tại: Thôn E,T,T,Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tùng L, sinh năm 1987
Đều trú tại: Thôn T, B,T, Hà Nội.
Chị T: Có mặt; Anh L:Vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huyền T trình bày: Tôi và anh Nguyễn Tùng L kết hôn có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 16/9/2016 tại UBND xã T,T,Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2018 liên tục xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xung đột trong sinh hoạt hàng ngày, khác biệt về tính cách. Đến tháng 3/2019 mâu thuẫn giữa vợ chồng và với gia đình chồng trở nên gay gắt không thể hòa hợp được nên sau khi sinh cháu Tú A thì tôi đã bỏ về nhà mẹ đẻ để sinh sống vì vậy vợ chồng tôi đã ly thân được 6 năm. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nữa nên tôi đề nghị cho tôi được ly hôn anh L để sớm ổn định cuộc sống.
Qúa trình giải quyết,do anh L không có mặt tại địa phương và sinh sống ở nơi khác nên tòa án đã tiến hành xác minh; Tại gia đình anh L ở H,B,T,Hà Nội, gia đình anh L cho biết chị T và anh L sau khi kết hôn ở tại gia đình cùng bố mẹ chồng,đến năm 2019 anh L bị tai nạn giao thông nên phải nằm một chỗ,mọi sinh hoạt cá nhân do gia đình bố mẹ anh L gánh vác; Cũng từ đó chị T dọn ra ngoài và về ở nhà bố mẹ đẻ chị T không chăm sóc anh L nữa; Từ khi tai nạn đến nay tình hình sức khỏe của anh Lâm thời G gần đây đã được cải thiện hơn nhiều,đã nói được,nhận thức được nhưng vẫn chưa đi lại được; Khi gia đình nói chuyện với anh L về việc chị T bỏ đi và muốn ly hôn anh thì anh L cũng muốn cho chị ly hôn anh để giải thoát cho chị T.
- 2. Về con chung: Chị T trình bày: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Duy H, sinh ngày 14/02/2017 và Nguyễn Thị Tú A,sinh ngày 30/3/2019. hiện các cháu đang ở với chị, ly hôn chị xin nuôi các cháu và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.
Gia đình chị T cũng xác nhận vợ chồng chị có 02 con chung như chị T trình bày và gia đình cũng có nguyện vọng để cháu H ở với anh L để có sự gần gũi bố con, nhằm động viên tinh thần cho anh L sớm hồi phục sức khỏe và gia đình cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung
3. T1 chung,nợ chung:Chị T, anh L đều không có tài sản, nợ chung.
4. Về nghĩa vụ chịu án phí: Chị T tự nguyện chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm
Qúa trình giải quyết anh L đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc kiểm tra chứng cứ và hòa giải; Tòa án đã triệu tập anh L đến làm việc, tuy nhiên anh L vắng mặt do ốm đau không đi lại được.
Nay chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho được ly hôn. Tại phiên toà, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Nguyễn Tùng L và xin nuôi con chung.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: HĐXX đã thực hiện đúng quy định của BLTT DS.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận thuận tình ly hôn xử cho ly hôn để các bên ổn định cuộc sống- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Duy H, sinh ngày 14/02/2017 và Nguyễn Thị Tú A,sinh ngày 30/3/2019. hiện các cháu đang ở với chị, ly hôn chị xin nuôi các cháu và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung; Gia đình anh L muốn cháu H ở với anh L; Tuy nhiên vì anh L bị tai nạn không thể chăm sóc cháu xét nên giao cho chị T nuôi dưỡng là đúng quy định pháp luật; Về tài sản chung: Không xét; Về án phí: Chị T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Tùng L đều đã nhận biết được Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Ngày 25 tháng 6 năm 2025 anh L vắng mặt và gia đình cũng đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn.
Chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Tùng L trước khi cưới có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 16/9/2016 tại UBND xã T,T,Hà Nội. Hôn nhân là hợp pháp; Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được thời gian và đã có 02 con chung sau đó xảy ra mâu thuẫn; Nguyên nhân là vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi cọ và không hòa hợp nên cuộc sống không hạnh phúc; Từ năm 2019 vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan hệ tình cảm gì với nhau nữa; Nay chị xác định không còn tình cảm với anh L nên xin được ly hôn. Anh L mặc dù Tòa án đã triệu tập nhưng gia đình xin vắng mặt do anh bị tai nạn nên không đi lại được và cũng có ý kiến việc anh L đồng ý để chị T được ly hôn; Nay chị T xin ly hôn,gia đình anh L cũng trình bày ý kiến anh L là đồng ý ly hôn để giải thoát cho chị T; Xét mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Tùng L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T xin ly hôn anh L mặc dù đã được triệu tập nhưng gia đình xin vắng mặt. Bản thân chị T tuổi đời còn trẻ,còn tương lai phía trước, anh L hiện nay do tai nạn nên mất sức lao động và không đi lại được,mọi sinh hoạt đều do gia đình hỗ trợ; hoàn cảnh rất éo le; Tuy nhiên do tình cảm và sự hy sinh của chị T cũng có giới hạn, xét hoàn cảnh cũng nên cho ly hôn để ổn định cuộc sống; để các bên không phải kéo dài sự dày vò với nhau giữa lương tâm và đạo đức Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T xử cho ly hôn để các bên ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Duy H, sinh ngày 14/02/2017 và Nguyễn Thị Tú A,sinh ngày 30/3/2019. hiện các cháu đang ở với chị,ly hôn chị xin nuôi các cháu và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung. Gia đình chị T cũng có nguyện vọng để cháu H ở với anh L để có sự gần gũi bố con, nhằm động viên tinh thần cho anh L sớm hồi phục sức khỏe và gia đình cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên xét thực tế gia đình bố mẹ anh L cũng đã cao tuổi, không thể cứ ở vậy để nuôi anh L và cháu; Mặt khác theo quy định pháp luật thì hiện tại anh L đã mất khả năng lao động nên không thể chăm sóc, nuôi dưỡng con; Mặc dù lời trình bày của gia đình anh L là rất thực; Tuy nhiên cần xem xét một cách toàn diện để con tre được phát triển toàn diện; Mặc dù vậy, tại phiên Tòa Hội đồng xét xử cũng phân tích để chị T thấy rõ hoàn cảnh của anh L và tạo mọi điều kiện cần thiết để anh L sớm hồi phục sức khỏe, nhất là việc thường xuyên để cháu qua lại gần gũi anh L,gắn kết tình cảm cha con; Chị T cũng đã thấu hiểu và ghi nhận ý kiến phân tích của hội đồng xét xử. Chính vì vậy,theo quy định pháp luật cần giao 02 con chung cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp. Chị T không yêu cầu anh L đóng góp nuôi con chung nên tạm miễn phần đóng góp nuôi con cho anh L đến khi có quyết định khác. Anh L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Chị T,anh L không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Chị T phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51,56,81,82,83 Luật Hôn nhân gia đình năm 20014; Xử:
Chị Nguyễn Thị Huyền T được ly hôn anh Nguyễn Tùng L.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung cháu tên: Nguyễn Duy H, sinh ngày 14/02/2017 và Nguyễn Thị Tú A,sinh ngày 30/3/2019. hiện các cháu đang ở với chị T.
Giao các cháu: Nguyễn Duy H, sinh ngày 14/02/2017 và Nguyễn Thị Tú A,sinh ngày 30/3/2019 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng,chăm sóc,giáo dục đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có quyết định khác; Tạm miễn phần đóng góp nuôi con chung cho anh L đến khi có quyết định khác; Anh L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không xem xét.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng. Đối trừ chị T đã nộp đủ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0021245 ngày 29 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho nguyên đơn biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Quốc Q |
4
5
Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
