Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24 tháng 6 năm 2025

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tiến Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Ngọc Tân;

2. Bà Nguyễn Thị Đoan.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXX-ST ngày 28/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Số E, KĐT N, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1973

Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt lần 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y yêu cầu khởi kiện và trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 27/02/2009 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình và lao động tự do. Quá trình chung sống đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 12/2019 đến nay mỗi người sống một nơi, chị đã từng làm đơn ly hôn sau đó rút đơn. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị Y và anh H có 02 con chung là Nguyễn Văn Huy H1, sinh ngày 07/11/2009 và Nguyễn Kim N, sinh ngày 28/4/2020 hiện đang ở cùng chị từ khi vợ chồng ly thân. Ly hôn chị Y đề nghị được nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại chị Y không có thai nghén gì. Chị Y đang làm lao động tự do, thu nhập 01 tháng là 10.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn H vắng mặt không có ý kiến trình bày.

Tại đơn đề nghị cháu Nguyễn Văn Huy H1 trình bày: Cháu Nguyễn Văn Huy H1, sinh ngày 07/11/2009 là con đẻ của chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Văn H. Hiện cháu H1 đã nghỉ học. Nếu chị Y, anh H ly hôn thì cháu H1 có nguyện vọng ở cùng chị Nguyễn Thị Y.

Tại biên bản xác minh với bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1949 thể hiện: bà L là chị dâu của anh H, bố mẹ anh H đều đã chết. Bà L xác nhận: chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Văn H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 27/02/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại gia đình anh H thời gian ngắn, sau đó đi lao động tự do, khi nào gia đình có công việc thì vợ chồng lại về. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn hay không thì gia đình không rõ, vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị Y có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị Y và anh H có 02 con chung là Nguyễn Văn Huy H1, sinh ngày 07/11/2009 và Nguyễn Kim N, sinh ngày 28/4/2020 hiện đang ở cùng chị Y từ khi vợ chồng ly thân. Nay vợ chồng Yến H2 xin ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: bà L không nắm rõ.

Hiện anh H2 đi lao động tự do không cố định địa chỉ, anh H2 vẫn liên lạc với chị và mọi người, những ngày tết hoặc giỗ bố anh H2 thì anh H2 vẫn về. Việc chị Y xin ly hôn thì anh H2 cũng biết, quan điểm của anh H2 là nhất trí ly hôn.

- Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn C, xã C; cán bộ tư pháp xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:

Chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Văn H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N vào ngày 27/02/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã C một thời gian ngắn và lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn hay không thì cơ sở không rõ, vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị Y có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị Y và anh H có 02 con chung là Nguyễn Văn Huy H1, sinh ngày 07/11/2009 và Nguyễn Kim N, sinh ngày 28/4/2020, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Cơ sở không nắm rõ. Anh H đi lao động tự do vẫn đăng ký hộ khẩu tại thôn C, xã C. Anh H vẫn thường xuyên về nhà và liên hệ với gia đình mỗi khi có công việc.

- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án vắng mặt, không có mặt tại phiên toà là thể hiện chấp hành chưa tốt quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y: Xử cho chị Y được ly hôn anh H; giao 02 con chung là Nguyễn Văn Huy H1, sinh ngày 07/11/2009 và Nguyễn Kim N, sinh ngày 28/4/2020 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung 18 tuổi, anh H không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung do chị Y không yêu cầu. Anh H có quyền đi lại thăm nom con chung; Chị Y phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Văn H là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã C, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh H vắng mặt không có lý do, chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị Y, anh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 27/02/2009 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay không quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị Y đề nghị ly hôn anh H cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y, xử cho chị được ly hôn anh H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung là Nguyễn Văn Huy H1, sinh ngày 07/11/2009 và Nguyễn Kim N, sinh ngày 28/4/2020 hiện đang ở cùng chị Y. Ly hôn chị Y đề nghị được nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu H1 cũng có nguyện vọng ở cùng chị Y. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của chị Y là chính đáng, chị Y có công việc, thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi 02 con chung Nguyễn Văn Huy H1, sinh ngày 07/11/2009 và Nguyễn Kim N, sinh ngày 28/4/2020; anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Y, anh Nguyễn Văn H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Y phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi 02 con chung Nguyễn Văn Huy H1, sinh ngày 07/11/2009 và Nguyễn Kim N, sinh ngày 28/4/2020; anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Y đã nộp theo Biên lai thu số 0002431 ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Y, anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Toà án ND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • - UBND xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Tiến Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Y ly hôn anh Nguyễn Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger