Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23-5-2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Túy Uyển và ông Nguyễn Văn Tuyên.
  • Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025, về: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày ngày 26 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Chu Thị Thanh H, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • Bị đơn: Anh Trần Vĩnh H1, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn C xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 11 tháng 3 năm 2025, các lời khai có tại hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Chu Thị Thanh H trình bày:

Chị Chu Thị Thanh H và anh Trần Vĩnh H1 tự nguyện tìm hiểu và kết hôn tại UBND xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 07/10/2019. Sau khi kết hôn chị và anh H1 cùng chung sống hạnh phúc với nhau tại Thôn C, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đến năm 2022 thì đời sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị và anh H1 không hợp về tính cách và quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Do mâu thuẫn căng thẳng, chị và anh H1 đã ly thân từ 2022 đến nay, trong thời gian sống ly thân không ai quan tâm hay xây dựng hàn gắn gia đình. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh H1, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Vĩnh H1.

Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là cháu Trần Hạ B và cháu Trần An N cùng sinh ngày 25/5/2020. Từ khi ly thân năm 2022 đến nay 02 con chung sống cùng với anh Trần Vĩnh H1 tại Thôn C, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Ly hôn chị H giao 02 con chung cho anh H1 tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không cấp dưỡng nuôi 02 con chung cùng anh H1, vì chị không có điều kiện kinh tế nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Trần Vĩnh H1. Tuy nhiên, anh H1 không đến Tòa án để cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, anh Trần Vĩnh H1 không có lời khai tại hồ sơ vụ án.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:

Tại phiên tòa đại diện kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Người tham gia tố tụng nguyên đơn chị Chu Thị Thanh H đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Đối với bị đơn anh Trần Vĩnh H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề Nghị xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Chị Chu Thị Thanh H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thành phố Pleiku nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Chu Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Vĩnh H1. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện vì bị đơn là anh Trần Vĩnh H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn C xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Do vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn anh Trần Vĩnh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về hôn nhân:

Chị Chu Thị Thanh H và anh Trần Vĩnh H1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai ngày 07/10/2019.

Quá trình chung sống ban đầu hạnh phúc nhưng sau đó giữa chị H và anh H1 đã có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị H và anh H1 không hợp với nhau về tính cách và quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã. Do mâu thuẫn căng thẳng chị H và anh H1 đã không còn tình cảm, quan tâm, chăm sóc nhau và đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị H nhận thấy không còn tình cảm với anh H1 nữa nên chị H yêu cầu ly hôn với anh Trần Vĩnh H1.

[3] Xét nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 là do tính cách không hợp nhau, thường xuyên xảy ra bất đồng. Quá trình hòa giải tại Tòa án, nguyên đơn là chị Chu Thị Thanh H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là được ly hôn với anh Trần Vĩnh H1 để ổn định cuộc sống. Tòa án cũng đã triệu tập anh H1 để tiến hành hòa giải cho hai vợ chồng đoàn tụ với nhau và để giải quyết vụ án, nhưng anh H1 không đến Tòa án để tham phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Như vậy, anh H1 đã không còn yêu thương đối với chị H và không quan tâm đến tình cảm vợ chồng cũng như việc xây dựng, hàn gắn tổ ấm gia đình.

Theo biên bản xác minh ngày 17/4/2025 tại Công an xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai thể hiện: “Anh Trần Vĩnh H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ Thôn C, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Chủ hộ là bà Trần Thị T – mẹ của anh Trần Vĩnh H1. Đối với mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Trần Vĩnh H1 và chị Chu Thị Thanh H thì địa phương không có thông tin”.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định hôn nhân của chị H và anh H1 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống đến nay, chị H và anh H1 có 02 con chung là cháu Trần Hạ B và cháu Trần An N cùng sinh ngày 25/5/2020. Ly hôn chị H giao 02 con chung cho anh H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi chị H và anh H1 xảy ra mâu thuẫn cho đến nay thì 02 con chung đang sống cùng với anh H1 tại hộ bà Trần Thị T tại Thôn C, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai ổn định cho đến nay. Anh H1 không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung đối với chị H.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị H phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp đến phát triển ổn định của 02 con chung nên giao con chung là cháu Trần Hạ B và cháu Trần An N cho anh H1 tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu B, cháu N đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H1. Anh H1 không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với việc cấp dưỡng nuôi 02 con chung đối với chị H. Do vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết cấp dưỡng nuôi con trong Bản án này. Trường hợp anh H1 có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị H thì được quyền làm đơn khởi kiện về việc cấp dưỡng nuôi con chung trong vụ án khác.

Vì vậy, căn cứ Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giải quyết việc nuôi con của chị H.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Chị H là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng đối với yêu cầu giải quyết ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83, 84, khoản 1 Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng điểm a Khoản 5 và điểm b Khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị Thanh H đối với anh Trần Vĩnh H1.

1. Về hôn nhân: Cho chị Chu Thị Thanh H được ly hôn anh Trần Vĩnh H1.

2. Về con chung: Giao có 02 con chung là cháu Trần Hạ B và cháu Trần An N cùng sinh ngày 25/5/2020 cho anh Trần Vĩnh H1 được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Chị Chu Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 001339 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Chu Thị Thanh H có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn anh Trần Vĩnh H1 vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND TP. Pleiku;
  • - Chi cục THADS TP. Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã An Phú, TP. Pleiku;
  • (GCNKH số 75 ngày 07/10/2019);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger