TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 10 - TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20/8/2025
V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- TÂY NINH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Đào
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Hữu Nghị
- Ông Phan Văn Hoàng
Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10- Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Quỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1988; Số căn cước công dân [...]; địa chỉ nơi cư trú: Tổ A, khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Lê Thị Kim T1 – sinh năm 1995; Số chứng minh nhân dân [...]; địa chỉ nơi đăng ký thường trú: Tổ A, khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ nơi cư trú: Tổ F, ấp B, xã N, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 11/4/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị T1 chung sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C (cũ), tỉnh Tây Ninh, hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2021 đến nay không thể hàn gắn, tình cảm không còn, anh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị T2.
Về con chung: Có 01 cháu tên Nguyễn Thị Kim T3, sinh ngày 22/6/2014 hiện đang sống với anh T, khi ly hôn anh T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị T3 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Chị Lê Thị Kim T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có lời khai tại Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn anh Nguyễn Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Lê Thị Kim T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vẫn mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị T1 là đúng quy định tại Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T; giao con chung tên Nguyễn Thị Kim T3, sinh ngày 22/6/2014 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, ghi nhận anh T không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung anh T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Tính án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn anh Nguyễn Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Lê Thị Kim T1 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt tất cả các đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Anh T và chị T1 chung sống với nhau từ năm 2013, có thực hiện việc đăng ký kết hôn, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Anh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị T1 do anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, sống ly nhiều năm nay không hàn gắn được, Tòa án nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh đã nhiều lần triệu tập nhưng chị T1 luôn vắng mặt không rõ lý do, điều này thể hiện chị T1 không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân của anh chị. Do đó, yêu cầu được ly hôn anh T là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về con chung: 01 người con tên Nguyễn Thị Kim T3, sinh ngày 22/6/2014 hiện đang sống ổn định cùng anh T và có nguyện vọng được sống với cha, anh T cũng có yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Do đó, giao con chung cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp, ghi nhận anh T không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Anh T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh T đối với chị Lê Thị Kim T1.
Anh Nguyễn Minh T được ly hôn với chị Lê Thị Kim T1.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Kim T3, sinh ngày 22/6/2014 cho anh Nguyễn Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con.
Chị T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Minh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Minh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006460 ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 – Tây Ninh), ghi nhận anh T đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Anh Tiến, chị T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Trúc Đào |
Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 20/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
