Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2-VĨNH LONG

TỈNH VĨNH LONG

Bản án số:37/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19-8-2025

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Long

2. Ông Nguyễn Đinh Cường

– Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thủy – Thư ký viên chính Tòa án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Vĩnh Long: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 19 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1992.
  2. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre ( nay là ấp T, xã A, tỉnh Vĩnh Long)

  3. Bị đơn: Anh Bạch Hữu T, sinh năm 1988 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp A, xã N, tỉnh Vĩnh Long).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/4/2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 21/4/2025 của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

Vào năm 2008 chị D và anh T qua quen biết, tìm hiểu đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 17/4/2010, theo giấy chứng nhận kết hôn số 037/2010. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài mục

2

đích hôn nhân không đạt được, nên chị D và anh T đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị D cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Bạch Hữu T.

  • - Về con chung: không có.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo cho bị đơn biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của chị D. Nhưng bị đơn không có văn bản trả lời và vắng mặt tại tất cả các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, đồng thời đều vắng mặt tại các phiên tòa mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn và hòa giải cho các đương sự được.

Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: bảo lưu yêu cầu khởi kiện không có gì bổ sung thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn có nơi cư trú tại xã M, huyện M ( nay là xã N), tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân khu vực 2-Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trong quá trình tiến hành tố tụng xét xử vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Xét, giữa chị D và anh T chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T là hợp pháp. Chị D cho rằng trong quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được, chị D và anh T đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do, anh T không đến phiên tòa, thể hiện anh T đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Điều này cũng chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc chị D yêu cầu

3

được ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về nuôi con chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[2.3] Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

[3] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm .

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị D được ly hôn với bị đơn anh Bạch Hữu T.
  2. Về nuôi con chung: không có.
  3. Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.
  4. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo Biên lai thu số: 0006334 ngày 01/4/2025. Nguyên đơn không phải nộp thêm tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa

4

đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND khu vực 2-Vĩnh Long;
  • - Phòng THADS khu vực 2- Vĩnh Long;
  • - UBND xã Tân Trung (2010);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Võ Thị Tám

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ T THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Long Nguyễn Đinh

Cường

Võ Thị Tám

6

7

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Tám

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 19/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị D với Bạch Hữu T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger