TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HNGĐ - ST Ngày 19/6/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đình Cự
- Ông Quách Đình Mạnh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa:
Bà Lại Thị G - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 47A/2025/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 3 năm 2025, về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 21/2025/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1976
- Bị đơn: Bà Nghiêm Thị T1, sinh năm 1980
Đều cùng địa chỉ: Thôn Á, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
- Người có quyền lợi liên quan: Bà Nghiêm Thị T2, sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn P, xã X, huyện V, tỉnh Thái Bình
(Tại phiên tòa có mặt ông T, bà T1. Vắng mặt bà T2)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn ông Nguyễn Hữu T trình bày: Ông và bà Nghiêm Thị T1 kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã P), huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 08/9/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2024 thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân mẫu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không quan tâm đến nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết cho ông được ly hôn với bà T1.
Về con chung: Ông và bà T1 có 03 con chung là Nguyễn Hữu C, sinh ngày 23/8/2004; Nguyễn Hữu T3, sinh ngày 27/3/2012; Nguyễn Hữu T4, sinh ngày 15/8/2015. Ly hôn ông xin nuôi con Nguyễn Hữu T4 để bà T1 nuôi con Nguyễn Hữu T3, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Con chung Nguyễn Hữu C đã trưởng thành tự lập về kinh tế nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Năm 2010 ông và bà T1 có vay của bà Nghiêm Thị T2 là chị gái của bà T1 04 chỉ vàng 9999 hiệu Mão Thiệt, nay vẫn chưa trả vàng cho bà T2.
Bà Nghiêm Thị T1 là bị đơn trình bày: Bà và ông Nguyễn Hữu T kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã P), huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 08/9/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2024 thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân mẫu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không quan tâm đến nhau. Nay ông T xin ly hôn bà không đồng ý ly hôn vì muốn các con được ở cùng bố mẹ. Bà đề nghị Toà án để vụ án ly hôn giữa ông T và bà 5 năm nữa mới giải quyết để ông T đi làm có tiền.
Về con chung: Bà và ông T có 03 con chung là Nguyễn Hữu C, sinh ngày 23/8/2004; Nguyễn Hữu T3, sinh ngày 27/3/2012; Nguyễn Hữu T4, sinh ngày 15/8/2015. Ly hôn bà xin nuôi con Nguyễn Hữu T3, để ông T nuôi con Nguyễn Hữu T4, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Con chung Nguyễn Hữu C đã trưởng thành tự lập về kinh tế nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản: Bà không yêu cầu Toà án giải quyết
Về nợ: Khi làm nhà bà và ông T vay của chị gái bà là bà Nghiêm Thị T2 04 chỉ vàng 9999 hiệu Mão Thiệt, nay vẫn chưa trả vàng cho bà T2. Toà án đã giao thông báo nộp tiền tạm ứng án phí kiện đòi tài sản cho bà T2 nhưng bà T2
bảo với bà là vợ chồng bà nợ tiền thì phải trả chứ bà T2 không nộp tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng.
- Người có quyền lợi liên quan là bà Nghiêm Thị T2 trình bày: Ông T, bà T1 có nợ bà 04 chỉ vàng 9999 vàng Mão Thiệt để xây nhà từ ngày 16/5/2011 tức ngày 03/4 âm lịch đến nay ông T, bà T1 chưa trả bà, bà yêu cầu ông T, bà T1 trả vàng bà.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn là ông Nguyễn Hữu T giữ nguyên quan điểm xin ly hôn bà Nghiêm Thị T1, ông xin nuôi con Nguyễn Hữu T4 để bà T1 nuôi con Nguyễn Hữu T3 hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Con chung Nguyễn Hữu C đã trưởng thành tự lập về kinh tế nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
- Bị đơn là bà Nghiêm Thị T1 trình bày: Ông T xin ly hôn bà không đồng ý vì muốn các con được ở cùng bố mẹ. Nếu ly hôn bà xin nuôi con Nguyễn Hữu T3, để ông T nuôi con Nguyễn Hữu T4, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Con chung Nguyễn Hữu C đã trưởng thành tự lập về kinh tế nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn - ông Nguyễn Hữu T, bị đơn bà Nghiêm Thị T1 đã chấp hành đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu T: Xử cho ông T được ly hôn bà Nghiêm Thị T1. Về con chung: đề nghị xử giao con chung Nguyễn Hữu T4 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng và giao con Nguyễn Hữu T3 cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Con chung Nguyễn Hữu C đã trưởng thành tự lập về kinh tế nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, ông T và bà T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không giải quyết về tài sản chung vợ chồng giữa ông T và bà T1. Về nợ, Toà án đã giao thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho bà Nghiêm Thị T2 nhưng bà T2 không nộp nên không giải quyết yêu cầu kiện đòi tài sản của bà T2 trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ
sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Bà Nghiêm Thị T1 có nơi thường trú tại xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông T kết hôn với bà T1 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã P), huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 08/9/2003 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận đến tháng 12/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không tôn trọng nhau, không quan tâm đến nhau. Ông T xin ly hôn, bà T1 không đồng ý ly hôn. Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình thì quá trình chung sống ông T và bà T1 có mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm được. Ông T xin ly hôn bà T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T xử cho ông T được ly hôn bà T1 là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Ông T và bà T1 có 03 con chung là Nguyễn Hữu C, sinh ngày 23/8/2004; Nguyễn Hữu T3, sinh ngày 27/3/2012; Nguyễn Hữu T4, sinh ngày 15/8/2015. Ly hôn ông T xin nuôi con Nguyễn Hữu T4, bà T1 xin nuôi con Nguyễn Hữu T3. Con chung Nguyễn Hữu C đã trưởng thành tự lập về kinh tế nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ủy ban nhân dân xã P đề nghị Toà án giải quyết về con chung theo quy định của pháp luật. Vì vậy, cần giao con chung Nguyễn Hữu T4 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Hữu T3 cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, ông T và bà T1 không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau là do tự nguyện nên cần chấp nhận. Việc thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Con chung Nguyễn Hữu C đã trưởng thành tự lập về kinh tế nên không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Ông Nguyễn Hữu T và bà Nghiêm Thị T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không giải quyết về tài sản chung vợ chồng giữa ông T và bà T1.
Về nợ: Ngày 16/4/2025 bà Nghiêm Thị T2 nộp đơn yêu cầu với nội dung: Ông T, bà T1 có nợ bà 04 chỉ vàng 9999 vàng Mão Thiệt để xây nhà từ ngày 16/5/2011 đến nay ông T, bà T1 chưa trả bà, bà yêu cầu ông T, bà T1 trả vàng bà.
Ngày 16/4/2025, Toà án nhân dân huyện Đông Hưng đã giao thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho bà T2 và ấn định: Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo này phải đến trụ sở Cơ quan thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Bình để nộp tiền tạm ứng án phí nhưng bà T2 không nộp mà không có lý do chính đáng nên Toà án sẽ không giải quyết yêu cầu kiện đòi tài sản của bà T2 trong vụ án này. Bà T2 có quyền khởi kiện yêu cầu ông T và bà T1 trả nợ bằng vụ án dân sự khác.
[3]Về án phí: Ông T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 266; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Điều 58; Điều 69; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Hữu T được ly hôn bà Nghiêm Thị T1.
- Về con chung: Xử giao con chung Nguyễn Hữu T4, sinh ngày 15/8/2015 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Hữu T3, sinh ngày 27/3/2012 cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Việc thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Con chung Nguyễn Hữu C đã trưởng thành tự lập về kinh tế nên không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung: Tòa án không giải quyết về tài sản.
Về nợ: Toà án không giải quyết đối với yêu cầu kiện đòi tài sản của bà Nghiêm Thị T2.
- Về án phí: Ông T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng ông T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001954 ngày 26/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Ông T, bà T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơinhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Lan Phương |
Bản án số 37/2025/HNGĐ - ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hôn nhân gia đình
