Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17 – 6 - 2025

V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Văn Dương

Ông: Lê Thế Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2025/TLST – HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N - Sinh năm: 1989 (Vắng mặt)

Số CCCD: [...]

HKTT: TDP K, phường M, thị xã N, Thanh Hóa

Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

- Bị đơn: Anh Lê Viết T - Sinh năm: 1989 (Có mặt)

Số CCCD: [...]

HKTT: TDP K, phường M, thị xã N, Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai Phạm Thị N trình bày như sau: Tôi và anh Lê Viết T có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn tại UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 21/10/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau được 10 năm, trong cuộc sống cũng có phát sinh nhiều mâu thuẫn nhỏ nhặt, đến năm 2020, thì phát sinh mâu thuẫn đỉnh điểm, nguyên nhân do anh T không có việc làm, thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm đến vợ con, tình trạng kéo dài, bản thân chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi, dẫn đến vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Quá trình giải quyết vụ án anh Lê Viết T có quan điểm như sau:

Về thời gian, điều kiện, địa điểm kết hôn, như chị N trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn không như chị N trình bày. Trong thời gian vợ chồng chung sống với nhau thì anh có thất nghiệp một thời gian ngắn, sau khi anh tìm được việc thì có mời an hem, bạn bè đến nhà chơi, ăn uống để trao đổi công việc, chị N không thông cảm và có mang đồ của anh bỏ ra ngoài, anh ra ngoài thuê trọ sống một mình, đến năm 2022, anh có đến thăm chị N và con nhưng chị N không đồng ý và không cho gặp. Sau đó chị N mang con về quê sống thì hàng tháng anh có lên thăm con và vợ nhưng chị N không cho anh cơ hội để chuyện trò cùng nhau. Anh và chị N sống ly thân hoàn toàn trong khoảng thời gian 4 năm nay. Bản thân anh muốn đoàn tụ nhưng chị N không đồng ý. Nay chị N làm đơn ly hôn anh không đồng ý.

Về con chung: Chị N và anh T có một con chung là cháu Lê Phạm Hoàng P – Sinh ngày: 24/9/2013. Nay ly hôn, cả hai anh chị đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con cùng chị là 02 triệu đồng/ tháng; Anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con cùng anh.

Cháu P có nguyện vọng ở với mẹ.

Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị N có đơn xin xét xử vắng mặt; Anh T trình bày tại phiên tòa như sau: Về phía anh vẫn còn tình cảm với chịNgọc tuy nhiên chị N không cho anh cơ hội để vợ chồng nói chuyện cùng nhau, đã nhiều lần anh nhắn tin, gọi điện cho chị N nhưng chị N không liên lạc và không trả lời anh. Anh xác định không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn và sẽ tìm cách níu kéo sau. Về phần con chung anh có nguyện vọng nuôi con nhưng kể từ khi sống ly thân chị N là người trực tiếp nuôi cháu nếu anh được nuôi anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con cùng anh còn nếu chị N được quyền nuôi con, hiện tại anh đang làm công nhân nhà máy X, có mức thu nhập từ 14 đến 16 triệu đồng/ tháng nên anh có điều kiện cấp dưỡng nuôi con cùng chị N mỗi tháng 02 triệu đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị N; Xử cho chị N được ly hôn với anh T. Về con chung: Giao cháu P cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T cấp dưỡng nuôi cháu P cùng chị T mỗi tháng 02 triệu đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6/2025 cho đến khi cháu P trưởng thành và có khả năng lao động. Anh T được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét; Về án phí: Buộc chị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh T phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Viết T là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị N và anh T đã xảy ra mâu thuẫn, về phía chị N xác định tình cảm không còn nên đề nghị giải quyết ly hôn, đối với anh T đang còn tình cảm với chị N nhưng anh không có biện pháp hàn gắn tình cảm, anh xác định vợ chồng sống ly thân đã lâu, chị N cương quyết ly hôn nên anh cũng đồng ý. Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện chị N và anh T nhiều năm nay không còn chung sống với nhau. Qua lời khai của chị N, anh T và quá trình xác minh với chính quyền địa phương, HĐXX xét thấy đời sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, anh chị đã sống ly thân nhiều năm nay, bản thân anh T cũng không có biện pháp hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy HĐXX áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật HN&GĐ xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn với anh Lê Viết T.

[3] Về con chung: Chị N và anh T có một con chung la cháu: Lê Phạm Hoàng P – Sinh ngày: 24/9/2013. Cả chị N và anh T đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P.

Xét nguyện vọng của các đương sự cũng như của cháu P, HĐXX thấy cả hai anh chị đều có nguyện vong nuôi con đây là nguyện vọng chính đáng của anh chị. Tuy nhiên quá trình sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay chị N là người trực tiếp nuôi con, cháu P có nguyện vọng ở cùng với mẹ nên HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật HN&GĐ giao cháu P cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa anh T đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu P mỗi tháng 02 triệu đồng, xét thấy đây là ý chí tự nguyện của anh T phù hợp với yêu cầu của chị N nên được HĐXX chấp nhận. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6/2025 cho đến khi cháu trưởng thành và có khả năng lao động.

Anh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.

[5] Về án phí: Buộc chị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật, anh T phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Căn cứ vào các Điều 51, 56; khoản 2 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị N.

1. Về hôn nhân:

Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn với anh Lê Viết T.

2.Về con chung:

Chị N và anh T có một con chung là cháu: Lê Phạm Hoàng P – Sinh ngày: 24/9/2013. Nay ly hôn giao cháu P cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T cấp dưỡng nuôi cháu P cùng chị N, mỗi tháng 02 triệu đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6/2025 cho đến khi cháu trưởng thành và có khả năng lao động

- Về quyền đi lại, thăm nom con chung: Anh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chi N được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T.

3. Về tài sản và công nợ chung:

Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.

4. Về án phí:

Buộc chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006001, ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị N đã thi hành xong phần án phí.

- Anh T phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con

5. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt anh T, vắng mặt chị N. Anh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CC.THA-DS thị xã Nghi Sơn;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND xã Xuân Thiện, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tôi và anh Lê Viết T có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn tại UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 21/10/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau được 10 năm, trong cuộc sống cũng có phát sinh nhiều mâu thuẫn nhỏ nhặt, đến năm 2020, thì phát sinh mâu thuẫn đỉnh điểm, nguyên nhân do anh T không có việc làm, thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm đến vợ con, tình trạng kéo dài, bản thân chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi, dẫn đến vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger