|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16-6-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Dưỡng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Sinh;
Bà Dương Thị Quyên.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Hồng Tân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Thị Bé B, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Trịnh Văn L, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Tại phiên tòa có mặt chị B, anh L)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Lời trình bày của nguyên đơn Trần Thị Bé B: Vào năm 2010, chị Bé B và anh L yêu thương nhau được hai bên gia đình chấp nhận và có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Chị Bé B và anh L có 01 (một) con chung Trịnh Thị Mỹ T, sinh ngày 28-8-2011, hiện cháu T đang sống cùng với chị Bé B. Lúc mới cưới nhau thì vợ chồng sống có hạnh phúc nhưng thời gian về sau thì vợ chồng chị Bé B và anh L phát sinh nhiều mâu thuẩn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống anh L hay bỏ nhà đi rồi về lại. Đến đầu năm 2024 thì mâu thuẩn của chị Bé B và anh L càng trở nên trầm trọng, vợ chồng không có tiếng nói chung nên đã ly thân với nhau từ đó đến nay là khoảng 1 năm nên vợ chồng không hàn gắn được. Nay chị Bé B làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng giải quyết những vấn đề sau:
- - Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Trịnh Văn L.
- - Về con chung: Có con chung tên Trịnh Thị Mỹ T, sinh ngày 28-8-2011, hiện cháu T đang sống cùng với chị Bé B. Chị Bé B yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Lời trình bày của bị đơn Trịnh Văn L: Năm 2010, anh L và chị B về sống chung với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Nay chị Bé B yêu cầu ly hôn thì anh L không đồng ý vì còn thương vợ, thương con.
- Về con chung: Anh L thống nhất có 01 con chung tên Trịnh Thị Mỹ T, sinh ngày 28-8-2011, hiện T đang sống cùng với chị Bé B nên anh L thống nhất giao cho chị Bé B tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh L không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bé B và anh Trịnh Văn L đều thừa nhận chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010 đến tháng 4 năm 2025 nhưng không đăng ký kết hôn, việc chị Trần Thị Bé B và anh Trịnh Văn L không đăng ký kết hôn được chứng minh bằng Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, hôn nhân của chị Trần thị Bé B và anh Trịnh Văn L là không có giá trị pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Đồng thời khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Chị Trần Thị Bé B và anh Trịnh Văn L có đủ điều kiện kết hôn nhưng chỉ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do đó không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Bé B và anh Trịnh Văn L là vợ chồng theo quy định tại các điều 9, 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Trần Thị Bé B và anh Trịnh Văn L thống nhất trong khoảng thời gian chung sống với nhau như vợ chồng có 01 con chung tên Trịnh Thị Mỹ T, sinh ngày 28-8-2011, hiện cháu T đang sống cùng với chị Trần Thị Bé B. Nay chị Trần Thị Bé B và anh Trịnh Văn L thỏa thuận: Giao con chung tên Trịnh Thị Mỹ T, sinh ngày 28-8-2011 cho chị Trần Thị Bé B nuôi dưỡng (hiện cháu T đang sống cùng với chị Trần Thị Bé B.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị Bé B không yêu cầu cấp dưỡng, anh Trịnh Văn L không tự nguyện cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Bé B và anh Trịnh Văn L đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[3] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”, vậy chị Trần Thị Bé B phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 005055 ngày 22-4-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, chị Trần Thị Bé B đã nộp đủ tiền án phí. Anh Trịnh Văn L không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 5, 28, 35, 39, 144, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các điều 9, 14, 15, 53, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị Bé B và anh Trịnh Văn L là vợ chồng.
- Về con chung: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị Trần Thị Bé B và anh Trịnh Văn L như sau: Giao con chung tên Trịnh Thị Mỹ T, sinh ngày 28-8-2011 cho chị Trần Thị Bé B được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (hiện cháu T đang sống chung với chị B và có nguyện vọng được sống chung với chị B). Anh Trịnh Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Trịnh Thị Mỹ T mà không ai được cản trở. Anh Trịnh Văn L lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trịnh Thị Mỹ T thì chị Trần Thị Bé B có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom cháu T của anh Trịnh Văn L.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị Bé B không yêu cầu cấp dưỡng, anh Trịnh Văn L không tự nguyện cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Bé B và anh Trịnh Văn L đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình:
- - Chị Trần Thị Bé B phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 005055 ngày 22-4-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, chị Trần Thị Bé B đã nộp đủ tiền án phí.
- - Anh Trịnh Văn L không phải chịu án phí.
- Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Dưỡng |
Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị B yêu cầu ly hôn anh L
