|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 12/6/2025
V/v tranh chấp: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Chín;
- Ông Trần Ngọc Thiện;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 77/2025/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025, về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2025/QÐST – HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày: 30/5/1988
- Bị đơn: anh Phan Thành Th; sinh ngày: 01/01/1977
Số căn cước công dân: [...], Cục CS QLHC về trật tự xã hội cấp ngày 12/11/2021
Nơi cư trú: thôn 3, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước
Số căn cước công dân: [...],
Nơi cư trú: thôn 3, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 12 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phan Thành Th tự nguyện chung sống năm 2011. Chị và anh Phan Thành Th tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 77, quyển số 01/2011, ký ngày 26/10/2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ ban đầu chung sống giữa vợ chồng có đã nảy sinh mâu thuẫn do mỗi người một tính cách, phong tục tập quán khác nhau. Năm 2023 thì mâu thuẫn của vợ chồng càng trầm trọng, thường xuyên cải vả, to tiếng với nhau và nhiều lần anh Phan Thành Th đập phá đồ đạc trong nhà và bỏ nhà đi không quan tâm tới vợ con. Nguyên nhân là do xuất phát từ kinh tế gia đình không ổn định, anh Phan Thành Th không chí thú làm ăn, mẫu thuẫn từ việc nuôi dạy con cái và một phần do anh Phan Thành Th ghen tuông vô cớ. Chị và anh Phan Thành Th sống ly thân từ khoảng tháng 4, tháng 5 năm 2024 cho đến nay. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không được. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước cho chị được ly hôn với anh Phan Thành Th.
Về con chung: chị và anh Phan Thành Th có hai con chung là Phan Hiếu T, sinh ngày: 09/4/2013 và Phan Nguyễn Khánh Ng, sinh ngày: 31/10/2020. Nguyện vọng của chị sau khi ly hôn là được trực tiếp nuôi dưỡng hai con.
Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu Tòa án giải quyết không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về cấp dưỡng: không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phan Thành Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án anh Phan Thành Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh và Nguyễn Thị Mỹ L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước. Trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do anh nghi ngờ chị Nguyễn Thị Mỹ L có những mối quan hệ bên ngoài dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả. hiện nay anh và chị Nguyễn Thị Mỹ L đang sống ly thân. Thời gian ly thân gần 01 năm. Hiện nay, các bên không còn tình cảm nên anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ L.
Về con chung: anh và chị Nguyễn Thị Mỹ L có hai người con chung tên là Phan Hiếu T, sinh ngày: 09/4/2013 và Phan Nguyễn Khánh Ng, sinh ngày: 31/10/2020. Sau khi ly hôn anh đồng ý giao hai con cho chị Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: anh Phan Thành Th (là bị đơn) vắng mặt nhưng có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Phan Thành Th.
[2] Về quan hệ hôn nhân: anh Phan Thành Th và chị Nguyễn Thị Mỹ L đều khai nhận anh chị có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước cấp giấy chứng nhận kết hôn số 77, quyển số 01/2011, ký ngày 26/10/2011. Lời khai của anh Phan Thành Th và chị Nguyễn Thị Mỹ L phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn đã được giao nộp hợp pháp (bút lục số 10). Khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch”. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Phan Thành Th và chị Nguyễn Thị Mỹ L là hợp pháp.
[3] Về yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ L: chị Nguyễn Thị Mỹ L khai nhận quá trình chung sống giữa chị và anh Phan Thành Th nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, cải vả, to tiếng với nhau. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Ngoài ra, mâu thuẫn còn xuất phát từ kinh tế gia đình không ổn định, anh Phan Thành Th không chí thú làm ăn, mẫu thuẫn từ việc nuôi dạy con cái và một phần do anh Phan Thành Th ghen tuông vô cớ dẫn đến thường xuyên cải vả lẫn nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị Mỹ L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Phan Thành Th thừa nhận giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do trong cuộc sống vợ chồng anh không tin tưởng vào tình cảm của chị Nguyễn Thị Mỹ L, nghi ngờ chị Nguyễn Thị Mỹ L có mối quan hệ bên ngoài. Xét thấy, mặc dù nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn hai bên khai nhận không giống nhau nhưng chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Phan Thành Th đều thừa nhận giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Bản thân giữa chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Phan Thành Th không còn niềm tin vào nhau, có những ghen tuông, nghi ngờ vô cớ làm rạn nứt tình cảm của vợ chồng không thể hàn gắn được. Mặt khác, chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Phan Thành Th sống ly thân từ tháng 4, tháng 5 năm 2024 cho đến nay. Hai bên đều không có thiện chí hòa giải. Như vậy, có đủ cơ sở xác định giữa anh Phan Thành Th và chị Nguyễn Thị Mỹ L nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay, hai bên đều có mong muốn ly hôn. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ L.
[4] Về con chung: Anh Phan Thành Th và chị Nguyễn Thị Mỹ L khai nhận anh chị có 02 con chung tên là Phan Hiếu T, sinh ngày: 09/4/2013 và Phan Nguyễn Khánh Ng, sinh ngày: 31/10/2020. Lời khai của anh Phan Thành Th và chị Nguyễn Thị Mỹ L phù hợp với giấy khai sinh đã được giao nộp hợp pháp.
Xét, cháu Phan Hiếu T và cháu Phan Nguyễn Khánh Ng còn nhỏ tuổi cần sự quan tâm, chăm sóc trực tiếp của cha hoặc mẹ. Trong thời gian vừa qua cháu Phan Hiếu T và cháu Phan Nguyễn Khánh Ng được chị Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Phan Thành Th có nguyện vọng giao 02 cháu cho chị Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng. Ngoài ra, cháu Phan Hiếu T cũng có nguyện vọng được mẹ (chị Nguyễn Thị Mỹ L) trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Do đó, xuất phát từ lợi ích về mọi mặt của cháu Phan Hiếu T và cháu Phan Nguyễn Khánh Ng, đảm bảo sự ổn định về môi trường sống và tâm sinh lý cho cháu Phan Hiếu T và cháu Phan Nguyễn Khánh Ng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao cháu Phan Hiếu T và cháu Phan Nguyễn Khánh Ng cho chị Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: anh Phan Thành Th và chị Nguyễn Thị Mỹ L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về chia tài sản chung: anh Phan Thành Th và chị Nguyễn Thị Mỹ L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: anh Phan Thành Th và chị Nguyễn Thị Mỹ L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[8] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L. Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn với anh Phan Thành Th.
- Về con chung: Giao cháu Phan Hiếu T, sinh ngày: 09/4/2013 và cháu Phan Nguyễn Khánh Ng, sinh ngày: 31/10/2020 cho chị Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng: Anh Phan Thành Th và chị Nguyễn Thị Mỹ L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh Phan Thành Th và chị Nguyễn Thị Mỹ L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Anh Phan Thành Th và chị Nguyễn Thị Mỹ L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L phải nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp trước là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0009756 ký ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Phước (đã nộp xong).
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kê từ ngày tuyên án (ngày 12/6/2025). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Giấy chứng nhận kết hôn số 77, quyển số 01/2011, ký ngày 26/10/2011 của Uỷ ban nhân dân xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước không có giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chưa thành niên, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Phương Hạnh |
5
Bản án số 37/2025/HNGĐ – ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn giữa Nguyễn Thị Mỹ L - Phan Thành Th
