TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03-4-2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Bá Lộc
- Bà Nguyễn Thị Di
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh K - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 04 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 431/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1993 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, C ở hện nay: Tổ C, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Nguyễn L, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, C1 ở hện nay: Tổ C, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị N và ông Nguyễn L1 tự nguyện chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn vào năm 2015, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quãng Ngãi, Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay lời qua tiếng lại về kinh tế, tài chính trong gia đình, vì thương con vợ chồng bà N cũng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được, nay bà N nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Lầm .
- Về con chung: Bà Lê Thị N xác định trong thời gian chung sống bà N và ông L có 02 con chung tên Nguyễn Lê Tường V, sinh ngày 28-10-2015 và Nguyễn Lê Tấn V1, sinh ngày 02-01-2018; khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung đến tuổi trưởng thành, và không yêu cầu ông L1 phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Theo kết quả xác minh, ông L1 có hộ khẩu thường trú tại Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, hiện nay ông L1 đang cư trú tại địa chỉ Tổ C, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Ông L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do; bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Trong quá trình tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N đối với ông L1. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Lê Tường V, sinh ngày 28-10-2015 và Nguyễn Lê Tấn V1, sinh ngày 02-01-2018 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ông L1 không phải cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Theo đơn khởi kiện, bản tự khai bà N xác định yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, đối với ông L1 được xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông L1 tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quãng Ngãi, cấp giấy chứng nhận kết hôn là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo bà N thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường hay lời qua tiếng lại về kinh tế, tài chính trong gia đình. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà N xin ly hôn với ông L1. Qúa trình tố tụng ông L1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông L1 cố tình vắng mặt cho thấy không có thiện chí hòa giải đoàn tụ. Xét thấy, ông L1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm, bà N kiên quyết xin ly hôn cho thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân Gia đình thì yêu cầu xin ly hôn của bà N là có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Lê Tường V, sinh ngày 28-10-2015 và Nguyễn Lê Tấn V1, sinh ngày 02-01-2018 đến tuổi trưởng thành. Xét thấy cháu V và cháu V1 đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ và cháu V cũng có nguyện vọng ở với mẹ nên giao cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Bà N không yêu cầu ông L1 phải cấp dưỡng nuôi con.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí sơ thẩm: Bà N là nguyên đơn nên phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tố tụng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Lầm .
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Tường V, sinh ngày 28-10-2015 và Nguyễn Lê Tấn V1, sinh ngày 02-01-2018 cho bà Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), ông Nguyễn L1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003978 ngày 06-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- “Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | ||
| Nguyễn Trường Mạnh |
Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị N-Nguyễn N
