Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HC-ST
Ngày 11-6-2025
“V/v khiếu kiện quyết hành chính
trong lĩnh vực đất đai”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Chương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Trung và bà Trần Thị Phương Thảo

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Dương Phúc Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 60/2022/TLST-HC ngày 21 tháng 7 năm 2022 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HC ngày 20-5-2025, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Bà Trần Thị T; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh G; địa chỉ liên hệ: Số A, đường B, tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Văn bản ủy quyền ngày 20-5-2025 – Có mặt.

  2. Người bị kiện:
    1. Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ và Sở Xây dựng tỉnh Đ; địa chỉ: Phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Thanh C ; chức vụ: Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ – Văn bản ủy quyền ngày 29-01-2024 – Có mặt.

    2. Ủy ban nhân dân thành phố G; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thạch Cảnh T1; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G – Văn bản ủy quyền ngày 11-8-2022 – Đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

  1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 14-6-2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện bà Trần Thị T trình bày:
  2. Năm 1990, gia đình bà Trần Thị T (chồng là Hoàng Văn Đ) khai hoang diện tích đất khoảng 22.351m² tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk (nay là tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông). Ngày 09-6-2005 của UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 1557/QĐ-UB về việc thu hồi diện tích đất 17.924m² của gia đình bà T để xây dựng Khu tái định cư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình tại đô thị G (sau đây gọi là dự án Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị M) thuộc thửa đất số 4, 16, 20, 61, tờ bản đồ số 02 của dự án. Diện tích đất còn lại chưa bị thu hồi là 4.391m² gia đình bà T tiếp tục sử dụng, tiến hành đổ đất, san lấp mặt bằng từ năm 2006 đến năm 2015.
  3. Ngày 17-6-2020 bà T làm đơn kiến nghị Sở Xây dựng tỉnh Đ (chủ đầu tư dự án) cắm mốc thực địa hiện trạng thửa đất bà T đang sử dụng sau khi thu hồi đất để bà T thực hiện cấp GCNQSDĐ. Ngày 20-6-2020 Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số: 1129/SXD-HT&QLN về việc trả lời đơn kiến nghị của bà T (Công văn số 1129/SXD-HT&QLN), nội dung: Sau khi kiểm tra phương án bồi thường, hỗ trợ đã được UBND tỉnh Đ phê duyệt tại Quyết định số: 596/QĐ-CTUB ngày 31-5-2005 và bản đồ đo đạc, giải thửa thì thửa đất số 67 thuộc quyền sử dụng của bà Nông Thị H, thửa đất số 68, 69 thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn T2, thửa đất số 70 thuộc quyền sử dụng của ông Trương Minh Q, thửa đất số 71 thuộc quyền sử dụng của ông Võ Ngọc H1; bà Trần Thị T không có tên trong danh sách kèm theo Quyết định số: 596/QĐ-CTUB. Ngày 08-7-2020 bà T khiếu nại Công văn số 1129/SXD-HT&QLN. Ngày 17-8-2020 Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số: 1441/SXD-HT&QLN về việc xử lý nội dung đơn khiếu nại của T (Công văn số 1441/SXD-HT&QLN), nội dung: Việc ban hành Quyết định thu hồi diện tích đất 17.924m² là đúng với diện tích đất thực tế của hộ bà T; về mốc ranh thu hồi đất dự án Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị M đã được khôi phục tại Biên bản làm việc khôi phục lại mốc ranh giới ngoài thực địa ngày 11-8-2020; đối với diện tích đất ngoài ranh thu hồi đề nghị bà T làm việc với chính quyền địa phương để được giải quyết
  4. Ngày 02-7-2021 bà T khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án hủy Công văn số 1129/SXD-HT&QLN và Công văn số 1441/SXD-HT&QLN. Tháng 8-2021 Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số: 1440/SXD-HT&QLN về việc ý kiến đối với nội dung đơn khởi kiện của bà T, cụ thể: Thống nhất hủy Công văn số: 1129/SXD-HT&QLN; đối với việc xác định quyền sử dụng đất hợp pháp còn lại của bà T chưa thu hồi (nếu có) đề nghị bà T làm việc với chính quyền địa phương để được giải quyết theo thẩm quyền. Do đó, bà T đã rút đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số: 24/2021/QÐST-HC ngày 27-8-2021.
  5. Tháng 9-2021 bà T tiến hành đo đạc làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất còn lại chưa bị thu hồi (theo trích đo địa chính của Công ty TNHH MTV T3 là thửa đất số 71, tờ bản đồ địa chính xã Đ đo năm 1998) nhưng không được giải quyết. Do đó, bà T làm đơn kiến nghị đến UBND thành phố G. Ngày 15-11-2021 Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố G ban hành Báo cáo số: 313/BC-TNMT về việc giải quyết đơn kiến nghị của bà T, trong đó có nội dung: Diện tích đất 4500m², thuộc thửa đất số 71, tờ bản đồ số 02 đã được UBND thành phố G cấp GCNQSDĐ số U001326 ngày 29-10-2003 cho ông Trịnh Ngọc M và đã bị thu hồi theo Quyết định số: 1555/QĐ-UB ngày 9-6-2005 của UBND huyện Đ. Bà T tiếp tục gửi đơn kiến nghị đến UBND thành phố G yêu cầu lồng ghép, xác định diện tích đất 4.855m² (có phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất kèm theo) bà T sử dụng thực tế, chưa được giải quyết cấp GCNQSDĐ có nằm trong ranh dự án Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị M hay không? nếu có thì đã thu hồi bồi thường cho hộ gia đình, cá nhân nào. Ngày 12-4-2022 UBND thành phố G ban hành Công văn số: 861/UBND-TNMT đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Đ (Chủ đầu tư dự án) chủ trì, phối hợp với Trung tâm đo đạc và Tư vấn tài nguyên môi trường tỉnh Đ làm rõ các nội dung theo đơn kiến nghị của bà T. Ngày 12-5-2022 Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số: 794/SXD-HT&QLN về việc phối hợp, kiểm tra giải quyết đơn kiến nghị của bà T (Công văn số 794/SXD-HT&QLN), nội dung: Diện tích đất 4.855m² (có phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất kèm theo) nằm toàn bộ trong phạm vi ranh thu hồi của dự án Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị M, ranh mốc giải phóng mặt bằng đã được khôi phục tại Biên bản làm việc khôi phục lại mốc ranh giới ngoài thực địa ngày 11-8-2020 và đã trả lời cho bà T tại Công văn số: 1441/SXD-HT&QLN; đối với nội dung kiểm tra diện tích đất 4.855m² đã được thu hồi và bồi thường cho ai thì Sở Xây dựng chưa trả lời. Ngày 06-6-2022 UBND thành phố G ban hành Công văn số: 1394/UBND-TNMT về việc trả lời kiến nghị của bà T (Công văn số 1394/UBND-TNMT ) theo nội dung Công văn số: 794/SXD-HT&QLN.

Vì vậy, ngày 14-6-2022 bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Hủy Công văn số: 1441/SXD-HT&QLN ngày 17-8-2020 của Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ về việc xử lý nội dung đơn khiếu nại của bà Trần Thị T.
  • Hủy Công văn số: 794/SXD-HT&QLN ngày 12-5-2022 của Sở Xây dựng tỉnh Đ về việc phối hợp, kiểm tra giải quyết đơn kiến nghị của bà Trần Thị T.
  • Hủy Công văn số: 1394/UBND-TNMT ngày 06-6-2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc trả lời kiến nghị của bà Trần Thị T.
  • Hủy một phần Quyết định số: 1555/QĐ-UB ngày 09-6-2005 của UBND huyện Đ (Nay là UBND thành phố G) về phần thu hồi thửa đất số 71, diện tích 4.500m² đối với ông Trịnh Ngọc M.

Ngày 05-12-2023 bà T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về nội dung hủy một phần Quyết định số: 1555/QĐ-UB ngày 09-6-2005 của UBND huyện Đ về phần thu hồi thửa đất số 71, diện tích 4.500m² đối với ông Trịnh Ngọc M.

2. Đại diện của người bị kiện UBND thành phố G trình bày:

  1. Sau khi nhận được đơn kiến nghị của bà T yêu cầu lồng ghép, xác định diện tích đất 4.855m² (có phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất kèm theo) bà T sử dụng thực tế, chưa được giải quyết cấp GCNQSDĐ có nằm trong ranh dự án Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị M hay không? nếu có thì đã thu hồi bồi thường cho hộ gia đình, cá nhân nào. Ngày 12-4-2022 UBND thành phố G ban hành Công văn số: 861/UBND-TNMT đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Đ (Chủ đầu tư dự án) chủ trì, phối hợp với Trung tâm đo đạc và Tư vấn tài nguyên môi trường tỉnh Đ làm rõ các nội dung theo đơn kiến nghị của bà T. Ngày 12-5-2022 Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số: 794/SXD-HT&QLN. Ngày 06-6-2022 UBND thành phố G ban hành Công văn số: 1394/UBND-TNMT trả lời cho bà T theo nội dung Công văn số: 794/SXD-HT&QLN.
  2. Về việc tiếp quản và khai thác sử dụng diện tích đất đã thu hồi để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị M: Ngày 06-8-2021 Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số: 1052/SXD-HT&QLN đề nghị UBND thành phố G tiếp quản và khai thác sử dụng phần diện tích đất đã thu hồi để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị M nhưng chưa sử dụng theo Biên bản làm việc khôi phục mốc ranh giới ngày 11-8-2020. Tuy nhiên, Biên bản làm việc ngày 11-8-2020 được Sở Xây dựng tỉnh Đ phối hợp với Trung tâm đo đạc, tư vấn và tài nguyên môi trường tỉnh Đ thực hiện trong phạm vi đất thu hồi của hộ ông Hoàng Văn Đ (chồng bà Trần Thị T), không liên quan đến nội dung bàn giao diện tích đất cho địa phương quản lý, sử dụng. Liên quan đến nội dung này, ngày 01-10-2021 UBND phường N ban hành Công văn số 570/UBND-ĐC đề nghị Sở Xây dựng xác định ranh giới, khôi phục, cắm mốc đối với khu đất đã giải phóng mặt bằng nhưng chưa sử dụng. Do đó, UBND thành phố G đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

3. Đại diện của người bị kiện Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ và Sở Xây dựng tỉnh Đ trình bày: Diện tích đất bà T bị thu hồi 17.924m² và đã được chi trả tiền bồi thường theo đúng quy định, nội dung này bà T không khiếu nại. Trường hợp bà T còn diện tích đất ngoài ranh thu hồi thì Sở Xây dựng tỉnh Đ không ý kiến gì. Đối với Tờ bản đồ dự án Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị M, Sở Xây dựng chưa cung cấp được bản có chữ ký, đóng dấu của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nhưng đã có hồ sơ kỹ thuật các thửa đất thu hồi theo Quyết định số: 1557/QĐ-UB ngày 09-6-2005 của UBND huyện Đ về việc thu hồi đất của hộ ông Hoàng Văn Đ (vợ là bà Trần Thị T) có các điểm tọa độ cụ thể và đã khôi phục lại theo Biên bản làm việc khôi phục lại mốc tanh giới ngoài thực địa ngày 11-8-2020. Do đó, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 3, khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 1 Điều 143; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính: Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T đối với nội dung hủy một phần Quyết định số: 1555/QĐ-UB ngày 09-6-2005 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về thu hồi thửa đất số 71, diện tích 4.500m² đối với ông Trịnh Ngọc M; Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về hủy Công văn số: 1441/SXD-HT&QLN, Công văn số: 794/SXD-HT&QLN và Công văn số 1394/UBND-TNMT.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 17-8-2020 Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số: 1441/SXD-HT&QLN. Ngày 12-5-2022 Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số: 794/SXD-HT&QLN trong đó có nội dung các kiến nghị của bà T đã được trả lời tại Công văn số 1441/SXD-HT&QLN. Ngày 06-6-2022 UBND thành phố G ban hành Công văn số: 1394/UBND-TNMT. Ngày 14-6-2022 bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Công văn số 1441/SXD-HT&QLN, Công văn số 794/SXD-HT&QLN và Công văn số: 1394/UBND-TNMT, là còn thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
    2. Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
    3. Ngày 05-12-2023 bà T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về nội dung hủy một phần Quyết định số: 1555/QĐ-UB ngày 09-6-2005 của UBND huyện Đ về phần thu hồi thửa đất số 71, diện tích 4.500m² đối với ông Trịnh Ngọc M. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 143 của Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện này của bà T.
  2. Xét yêu cầu khởi kiện của bà T về hủy Công văn số 1441/SXD-HT&QLN và Công văn số 794/SXD-HT&QLN.
    1. Về hình thức: Ngày 08-7-2020 bà T khiếu nại Công văn số 1129/SXD-HT&QLN. Ngày 17-8-2020 Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số 1441/SXD-HT&QLN (ban hành dưới hình thức công văn), không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại là chưa đúng về hình thức quy định tại Điều 31 của Luật khiếu nại.
    2. Về nội dung:
      1. Ngày 17-6-2020 bà T làm đơn kiến nghị Sở Xây dựng tỉnh Đ (chủ đầu tư dự án) cắm mốc thực địa hiện trạng thửa đất bà T đang sử dụng sau khi thu hồi đất để bà T thực hiện thủ tục cấp GCNQSDĐ. Ngày 20-6-2020 Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số 1129/SXD-HT&QLN, nội dung: “Sau khi kiểm tra phương án bồi thường, hỗ trợ đã được UBND tỉnh Đ phê duyệt tại Quyết định số: 596/QĐ-CTUB ngày 31-5-2005 và bản đồ đo đạc, giải thửa thì thửa đất số 67 thuộc quyền sử dụng của bà Nông Thị H, thửa đất số 68, 69 thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn T2, thửa đất số 70 thuộc quyền sử dụng của ông Trương Minh Q, thửa đất số 71 thuộc quyền sử dụng của ông Võ Ngọc H1; bà Trần Thị T không có tên trong danh sách kèm theo Quyết định số: 596/QĐ-CTUB. Theo đó, việc bà Trần Thị T đề nghị cắm mốc thực địa hiện trạng thửa đất đang sử dụng sau khi thu hồi dự án Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị M năm 2005 để được cấp GCNQSDĐ là không có cơ sở” (BL số 22). Ngày 08-7-2020 bà T khiếu nại Công văn số 1129/SXD-HT&QLN. Ngày 17-8-2020 Giá đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số: 1441/SXD-HT&QLN(BL số 83), nội dung: Việc thu hồi diện tích đất 17.924m² là đúng với diện tích đất thực tế của bà T; về mốc ranh thu hồi đất dự án Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị M đã được khôi phục tại Biên bản làm việc khôi phục lại mốc ranh giới ngoài thực địa ngày 11-8-2020; đối với diện tích đất ngoài ranh thu hồi đề nghị bà T làm việc với chính quyền địa phương để được giải quyết.
      2. Ngày 02-7-2021 bà T khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án hủy Công văn số 1129/SXD-HT&QLN và Công văn số: 1441/SXD-HT&QLN. Tháng 8-2021 Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số: 1440/SXD-HT&QLN về việc ý kiến đối với nội dung đơn khởi kiện của bà T, cụ thể: Thống nhất hủy Công văn số 1129/SXD-HT&QLN, đồng thời ý kiến việc xác định quyền sử dụng đất hợp pháp còn lại của bà T chưa thu hồi (nếu có) đề nghị bà T làm việc với chính quyền địa phương để được giải quyết theo đúng thẩm quyền (BL số 90). Như vậy, Sở Xây dựng tỉnh Đ trả lời kiến nghị, khiếu nại của bà T không thống nhất tại các Công văn số: 1129/SXD-HT&QLN và Công văn số: 1441/SXD-HT&QLN.
      3. Ngày 27-8-2021 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số: 24/2021/QĐST-HC do bà T tự nguyện rút đơn khởi kiện. Tháng 9-2021 bà T tiến hành đo đạc làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất còn lại chưa bị thu hồi nhưng không được giải quyết. Do đó, bà T gửi đơn kiến nghị đến UBND thành phố G yêu cầu lồng ghép, xác định diện tích đất 4.855m² (có phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất kèm theo) bà T sử dụng thực tế, chưa được giải quyết cấp GCNQSDĐ có nằm trong ranh dự án Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị M hay không? nếu có thì đã thu hồi bồi thường cho hộ gia đình, cá nhân nào.
      4. Ngày 12-4-2022 UBND thành phố G ban hành Công văn số: 861/UBND-TNMT đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Đ (Chủ đầu tư dự án) chủ trì, phối hợp với Trung tâm đo đạc và Tư vấn tài nguyên môi trường tỉnh Đ (Đơn vị đo đạc bản đồ thu hồi đất và xây dựng phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng) làm rõ các nội dung theo đơn kiến nghị của bà T (BL số 91). Ngày 12-5-2022 Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số 794/SXD-HT&QLN (BL số 81), nội dung: Diện tích đất 4.855m² (có phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất kèm theo) nằm toàn bộ trong phạm vi ranh thu hồi của dự án Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị M, ranh mốc giải phóng mặt bằng đã được khôi phục theo Biên bản làm việc khôi phục lại mốc ranh giới ngoài thực địa ngày 11-8-2020 và đã trả lời cho bà T tại Công văn số: 1441/SXD-HT&QLN; đối với nội dung kiểm tra diện tích đất 4.855m² đã được thu hồi và bồi thường cho hộ gia đình, cá nhân nào thì Sở Xây dựng tỉnh Đ chưa trả lời. Ngày 06-6-2022 UBND thành phố G ban hành Công văn số 1394/UBND-TNMT có nội dung theo Công văn số:794/SXD-HT&QLN (BL số 82).
      5. Như vậy, căn cứ ban hành Công văn số 1441/SXD-HT&QLN và Công văn số 794/SXD-HT&QLN là Biên bản làm việc khôi phục lại mốc ranh giới ngoài thực địa ngày 11-8-2020, ghi nhận: Việc khôi phục lại mốc ranh giới ngoài thực địa trên cơ sở tọa độ của Hồ sơ kỹ thuật khi thu hồi đất tại Quyết định số: 1557/QĐ-UB ngày 09-6-2005 của UBND huyện Đ (các mốc khôi phục có tọa độ kèm theo). Tuy nhiên, bà T không công nhận kết quả cắm mốc ngoài thực địa và không ký biên bản. Quá trình giải quyết vụ án, bà T cung cấp kết quả chuyển đổi múi chiều các thửa đất của bà T bị thu hồi theo Quyết định số: 1557/QĐ-UB nêu trên từ hệ tọa độ cũ sang hệ tọa độ mới để đối chiếu, chứng minh việc khôi phục lại mốc ranh giới ngoài thực địa do Sở Xây dựng tỉnh Đ chủ trì là không đúng; đồng thời có đơn yêu cầu Tòa án làm rõ tính pháp lý việc khôi phục lại mốc ranh giới ngoài thực địa ngày 11-8-2020.
      6. Ngày 25-01-2024 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông ban hành Công văn số: 05/2024/CV-TA-HC yêu cầu Trung tâm đo đạc và tư vấn tài nguyên môi trường tỉnh Đ kiểm tra các mốc tọa độ khôi phục tại Biên bản làm việc khôi phục lại mốc ranh giới ngoài thực địa ngày 11-8-2020 dựa trên cơ sở nào? tính pháp lý của việc khôi phục mốc ranh thu hồi và việc chuyển tọa độ dựa trên phần mềm nào? (BL số 242). Tuy nhiên, Trung tâm đo đạc và tư vấn tài nguyên môi trường tỉnh Đ không phúc đáp. Ngày 26-6-2024 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông ban hành Công văn số 45/2024/CV-TA/HC và Công văn số: 46/2024/CV-TA/HC đề nghị Văn Phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ và Cục o đạc, bản đồ và thông tin địa lý Việt Nam kiểm tra, đánh giá kết quả chuyển tọa độ. Tại Công văn số: 671/CV-VPĐKDĐ ngày 17-7-2024 của Văn Phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ trả lời: Để thực hiện việc chuyển tọa độ cần phải xác định hệ tọa độ gốc và tọa độ gốc thuộc múi chiều nào, hệ tọa độ tham chiếu, kết hợp đo đạc thực địa mới có căn cứ xác định chính xác (BL số 261). Tại Công văn số: 1111/BÐÐÐVN-CSQL ngày 12-7-2024 của và Cục Đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý Việt Nam, trả lời: Để có kết luận về kết quả chuyển tọa độ đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông trưng cầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có hoạt động chuyên môn thuộc lĩnh vực đất đai phù hợp để thực hiện theo quy định (BL 260). Ngày 14-5-2025 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông ban hành Công văn số: 78/2025/CV-TA/HC yêu cầu Sở Xây dựng tỉnh Đ cung cấp: Hệ tọa độ và tọa độ gốc (dự án Hệ thống hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị M) thuộc múi chiều nào? Hồ sơ mốc tọa độ và Hồ sơ lưới thực hiện dự án Hệ thống hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị M. Tuy nhiên, Sở Xây dựng tỉnh Đ không cung cấp được thông tin, tài liệu theo yêu cầu. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông không có cơ sở để trưng cầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có hoạt động chuyên môn thuộc lĩnh vực đất đai.[2.2.7]. Mặt khác, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất bà T sử dụng và xin cấp GCNQSDĐ, đồng thời yêu cầu Văn phòng Đăng ký đất đai đo đạc, lồng ghép diện tích đất đo đạc hiện trạng với Tờ bản đồ địa chính số 02 xã Đ đo năm 1998 và Mảnh bản đồ địa chính số 01, 02 của Ban quản lý dự án. Tuy nhiên, Công văn số 1107/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 13-9-2003 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ (BL số 172) trả lời không thể thực hiện việc lồng ghép với Tờ bản đồ địa chính số 02 xã Đ đo năm 1998, do đó không thể xác định thửa đất bà T sử dụng và xin cấp GCNQSDĐ thuộc thửa đất số mấy của Tờ bản đồ địa chính số 02 xã Đ đo năm 1998. Đối với Mảnh bản đồ địa chính số 01 và 02 của Ban quản lý dự án, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã yêu cầu Sở Xây dựng tỉnh Đ, Trung tâm đo đạc và tư vấn tài nguyên môi trường tỉnh Đ và một số cơ quan theo đề nghị của Sở Xây dựng tỉnh Đ cung cấp bản có chữ kỹ, đóng dấu của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nhưng đều không cung cấp được; trong hồ sơ vụ án chỉ có bản phô tô Mảnh bản đồ địa chính số 01 và 02 của Ban quản lý dự án nhưng không có chữ ký, đóng dấu của người kiểm tra và cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nên không có giá trị pháp lý.
      7. Hơn nữa, nội dung Công văn số 1441/SXD-HT&QLN và Công văn số 794/SXD-HT&QLN, ghi nhận: Diện tích đất bà T bị thu hồi tại các thửa đất 67, 68, 69 theo GCNQSDĐ số 008672 ngày 23-11-2004 là không đúng, đúng phải theo GCNQSDĐ số AA003873 do UBND huyện Đ cấp ngày 20-7-2004 cho hộ ông Hoàng Văn Đ (vợ là Trần Thị T). Đồng thời, đối với nội dung kiến nghị của bà T về việc kiểm tra diện tích đất 4.855m² đã được thu hồi và bồi thường cho hộ gia đình, cá nhân nào thì Sở Xây dựng tỉnh Đ chưa trả lời.
    3. Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ trả lời kiến nghị, khiếu nại của bà T không thống nhất tại các Công văn số 1129/SXD-HT&QLN và Công văn số 1441/SXD-HT&QLN. Mặt khác, Sở Xây dựng tỉnh Đ và Trung tâm đo đạc và tư vấn tài nguyên môi trường tỉnh Đ không cung cấp được cơ sở, tính pháp lý để thực hiện việc khôi phục lại mốc ranh giới; không cung cấp được Hệ tọa độ và tọa độ; hồ sơ mốc tọa độ và Hồ sơ lưới thực hiện dự án Hệ thống hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị M để Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông trưng cầu tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có hoạt động chuyên môn thuộc lĩnh vực đất đai (Mục đích giám định việc chuyển đổi các điểm tọa độ do bà Thủy cung cấp, cũng như xác định tính chính xác của việc khôi phục lại mốc tranh giới ngày 11-8-2020); không cung cấp được Mảnh bản đồ địa chính số 01 và 02 của Ban quản lý dự án có tính pháp lý để thực hiện việc lồng ghép với hiện trạng thửa đất bà T sử dụng. Tuy nhiên, Sở Xây dựng tỉnh Đ lại căn cứ vào Biên bản làm việc khôi phục lại mốc ranh giới ngoài thực địa ngày 11-8-2020 để xác định và trả lời cho bà T nội dung đất bà T xin cấp GCNQSDĐ hoàn toàn nằm trong ranh thu hồi của dự án Hệ thống hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị M là chưa có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc hủy Công văn số 1441/SXD-HT&QLN và Công văn số 794/SXD-HT&QLN.
    4. Đối với Công văn số 1394/UBND-TNMT có nội dung theo nội dung Công văn số 794/SXD-HT&QLN. Tuy nhiên, Công văn số: 794/SXD-HT&QLN bị hủy như đã phân tích trên nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc hủy Công văn số 1394/UBND-TNMT.
    5. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
    6. Về án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T được chấp nhận một phần nên Sở Xây dựng tỉnh Đ và UBND thành phố G phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Trần Thị T tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 3, khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 1 Điều 143; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính:

  1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T đối với nội dung hủy một phần Quyết định số: 1555/QĐ-UB ngày 09-6-2005 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về thu hồi thửa đất số 71, diện tích 4.500m² đối với ông Trịnh Ngọc M.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T:
    1. Hủy Công văn số: 1441/SXD-HT&QLN ngày 17-8-2020 của Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ về việc xử lý nội dung đơn khiếu nại của bà Trần Thị T.
    2. Hủy Công văn số: 794/ SXD-HT&QLN ngày 12-5-2022 của Sở Xây dựng tỉnh Đ về việc phối hợp, kiểm tra giải quyết đơn kiến nghị của bà Trần Thị T.
    3. Hủy Công văn số: 1394/UBND-TNMT ngày 06-6-2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc trả lời kiến nghị của bà Trần Thị T.
  3. Về án phí hành chính sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; áp dụng khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:
    1. Sở Xây dựng tỉnh Đ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G mỗi người phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
    2. Hoàn trả cho bà Trần Thị T số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0000132 ngày 19-7-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
  4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - UBND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Cục THADS tỉnh Đắk Nông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tổ thụ lý; Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Hồng Chương

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HC-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai

  • Số bản án: 37/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger