|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/DS-ST Ngày: 29/5/2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.
Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Tâm và bà Nguyễn Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phát Huy, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 714/2024/TLST - DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng T1 (Nay thay đổi tên là Ngân hàng T2); Địa chỉ trụ sở: Số A, H, phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Minh N, sinh năm 1989, nơi cư trú: số E, tổ B, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thiện L, sinh năm 1986, chức vụ: Chuyên viên quản lý Quan hệ khách hàng - Ngân hàng T1 (giấy uỷ quyền số 314/2025/GUQ-VCBNeo ngày 08/4/2025) (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên tòa trình bày: Ngày 28/7/2023, ông Nguyễn Đức T có ký hợp đồng tín dụng 140/2023/24101/08.1.HĐTD/200 với Ngân hàng T1 chi nhánh A phòng G để vay vốn, cụ thể như sau: Vốn vay: 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng. Mục đích vay: bổ sung vốn mua bán (nhưng không có giấy phép kinh doanh). Thời hạn vay: 12 tháng, lãi suất cho vay: 12.5%/năm, được áp dụng theo hình thức thả nổi theo thông báo điều chỉnh của Ngân hàng; lãi suất nợ quá hạn bằng 150%/năm lãi suất cho vay trong hạn.
Để đảm bảo hợp đồng tín dụng, ông T có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 140/2023/24101/02.HĐTC/200 ngày 28/7/2023 về việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Thuộc thửa đất số 128, tờ bản đồ số 27, địa chỉ: phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, diện tích: 231.5 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DI 481473, số vào sổ cấp GCN: CN11760 do Văn phòng Đ chi nhánh C cấp ngày 19/7/2023. Đất tọa lạc số 585, tổ B, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 15/10/2024, ông T đã thanh toán được 372.393.574 đồng tiền lãi và ngưng cho đến nay. Ngân hàng đã nhiều lần có văn bản thông báo về việc vi pham hợp đồng nhưng ông T không thực hiện đúng việc trả nợ gốc, lãi đúng hạn cho Ngân hàng. Đến ngày 15/10/2024 ông T còn nợ số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn là 3.675.391.055 đồng (trong đó, nợ gốc 3.500.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn là 50.662.106 đồng, lãi quá hạn 123.410.976 đồng, lãi chậm trả 1.317.973 đồng). Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở về việc thanh toán khoản nợ vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký nhưng ông T không thực hiện.
Ngân hàng khởi kiện yêu ông Nguyễn Đức T có trách nhiệm thanh toán vốn gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp động tín dụng số 140/2023/24101/08.1.HĐTD/200 ngày 28/7/2023 là 3.675.391.055 đồng và lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng; trong đó số tiền tạm tính khoản vay đến ngày 15/10/2024 là 3.675.391.055 đồng, bao gồm: nợ gốc 3.500.000.000 đồng, nợ lãi 50.662.106 đồng, nợ lãi chậm trả 1.317.973 đồng, lãi quá hạn gốc 123.410.976 đồng. Đồng thời, yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 16/10/2024 cho đến khi trả hết nợ và trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Đức T; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hồ Minh N nhưng các đương sự không cung cấp lời khai.
Tòa án tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa,
- Đại diện Ngân hàng có văn bản trình bày ý kiến: ngân hàng yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 29/5/2025 là 4.037.513.275 đồng (trong đó vốn gốc 3.500.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 371.319.763 đồng, tiền lãi quá hạn từ ngày là 166.193.512 đồng). Tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 30/5/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận quy định trong các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp bị đơn không có khả năng trả nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, bị đơn ông T; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thể hiện giữa ông T với Ngân hàng có ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Do bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả cho Ngân hàng số tiền vốn, lãi tính đến ngày 29/5/2025 là 4.037.513.275 đồng, tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 30/5/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận quy định trong các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong là có căn cứ. Trường hợp, bị đơn không trả nợ thì khi Bản án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100,103 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7,8 Nghị quyết 01 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản với bị đơn có nơi cư trú tại thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[3] Về thay đổi tên gọi của nguyên đơn: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, vào ngày 14/5/2025 Ngân hàng T1 cung cấp Thông báo số 193/2025/TB- VCBNeo ngày 19/02/2025 về việc thay đổi tên gọi thành Ngân hàng T2.
Về nội dung:
[4] Ngân hàng khởi kiện cho rằng ông T đã ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng và cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh là các hợp đồng tín dụng, giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, bảng kê tính lãi....
Xét, hợp đồng tín dụng số HĐTD18C203175 ngày 07/6/2023 giữa Ngân hàng với ông T được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
[5] Về vốn vay và tiền lãi: Căn cứ Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và ông T; lời khai đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng xác định vốn vay 3.500.000.000 đồng.
Theo trình bày của đại diện Ngân hàng, quá trình vay bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi hàng tháng và vi phạm nghĩa vụ trả vốn vay khi đến hạn. Hiện còn nợ lại Ngân hàng vốn, lãi tính đến ngày 29/5/2025 là 4.037.513.275 đồng (trong đó vốn gốc 3.500.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 371.319.763 đồng, tiền lãi quá hạn từ ngày là 166.193.512 đồng).
Thấy rằng, giữa Ngân hàng với ông T có giao kết hợp đồng tín dụng vay tiền. Quá trình vay do ông T không thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay.
Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T có trách nhiệm trả vốn vay và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng, xét chấp nhận.
Buộc ông T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 29/5/2025 là 4.037.513.275 đồng (trong đó vốn gốc 3.500.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 371.319.763 đồng, tiền lãi quá hạn từ ngày là 166.193.512 đồng).
“Kể từ ngày 30/5/2025, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.
[5] Về hợp đồng thế chấp:
Để đảm bảo các khoản vay nêu trên, ông T có ký hợp đồng thế chấp số 140/2023/24101/02.HĐTC/200 ngày 28/7/2023 về việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Thuộc thửa đất số 128, tờ bản đồ số 27, diện tích: 231.5 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DI 481473, số vào sổ cấp GCN: CN11760 do Văn phòng Đ chi nhánh C cấp ngày 19/7/2023 do ông Nguyễn Đức T đứng tên. Đất tọa lạc số 585, tổ B, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Xét thấy hợp đồng thế chấp số140/2023/24101/02.HĐTC/200 ngày 28/7/2023 được các bên tự nguyện ký kết, có công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm là đúng quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp bị đơn không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ là đúng quy định pháp luật.
[7] Về chi phí tố tụng: Trong quá trình tố tụng, Ngân hàng nộp tạm ứng chi phí tố tụng với số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Do đó, buộc bị đơn hoàn trả cho Ngân hàng tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:
- Bị đơn có trách nhiệm trả vốn và lãi cho Ngân hàng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.037.513 đồng.
- Ngân hàng được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho Ngân hàng.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 147, 273, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T2 (tên gọi cũ là Ngân hàng T1).
Buộc ông Nguyễn Đức T trả cho Ngân hàng T2 Công nghệ số số tiền tính đến ngày 29/5/2025 là 4.037.513.275 đồng (trong đó vốn gốc 3.500.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 371.319.763 đồng, tiền lãi quá hạn từ ngày là 166.193.512 đồng).
“Kể từ ngày 30/5/2025, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.
Trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng T1 với ông Nguyễn Đức T để thu hồi nợ.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn Nguyễn Đức T phải chịu 112.037.513 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng T2 (tên gọi cũ là Ngân hàng T1) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng T2 Công nghệ số số tiền 52.754.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai 0006056 ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.
[3] Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Đức T hoàn trả cho Ngân hàng T2 số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.
[3] Về quyền kháng cáo:
Thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Tiền |
Bản án số 37/2025/DS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 37/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng - Nguyễn Đức T tranh chấp hợp đồng tín dụng
