TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/DS-ST
Ngày: 27-6-2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Đạt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hải Hùng
Bà Nguyễn Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy Kiều là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị H – sinh năm 1961 (có mặt);
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. - Bị đơn: Ông Biện Tấn P – sinh năm 1992 (có mặt);
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị Bích L – sinh năm 1994 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị H trình bày:
Ông Biện Tấn P có nhận làm dịch vụ giấy tờ cấp về việc cấp mới đăng ký cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lần đâu, sau đó gộp thửa đất và tách thành 04 GCNQSDĐ cho bà Võ Thị H với giá 185.000.000đ.
Các bên có lập 01 (một) “Giấy tạm ứng tiền đợt 1" viết tay, trong đó thể hiện số tiền tạm ứng và nội dung dịch vụ bà H yêu cầu ông P thực hiện. Việc lập giấy tạm ứng tiền có bà Võ Thị Kim H1 (con bà H) chứng kiến. Tháng 4/2022, bà H có đưa tiền tạm ứng cho ông P, chia làm 03 đợt với tổng số tiền là 85.000.000đ, để làm chi phí thực hiện các thủ tục nhưng ông P chỉ ghi tạm ứng có 15.000.000đ. Đồng thời, bà H có đưa cho ông P 01(một) bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CP 767370, số vào sổ cấp GCN CS 00779 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 14/12/2018, thửa đất số 28, TBĐ số 15, diện tích 435 m² tại Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, đứng tên người sử dụng bà Võ Thị H để làm thủ tục.
Mặc dù đã nhận được tiền tạm ứng nhưng ông P vẫn không thực hiện công việc đã thỏa thuận. Bà đã nhiều lần liên hệ ông P để hỏi về tình hình thực hiện công việc nhưng ông P trả lời chưa làm xong và hẹn bà hết lần này đến lần khác. Sau đó, bà có yêu cầu ông P trả lại số tiền đã nhận và bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông P không đồng ý và với lý do là đất của bà dính quy hoạch đường cao tốc nên chưa làm được. Qua kiểm tra thì bà được biết các thửa đất của bà không dính quy hoạch.
Ngày 06/7/2023, bà có làm đơn tố giác gửi đến Công an xã N và Công an thị xã N để giải quyết thì ông P có hứa là sẽ thực hiện công việc cho bà nhưng từ đó đến nay ông P vẫn chưa thực hiện. Tại cơ quan điều tra, ông P đã thừa nhận là đã nhận số tiền 85.000.000đ. Do đó, bà yêu cầu hủy hợp đồng dịch vụ đã ký, buộc ông P phải trả lại số tiền đã nhận là 85.000.000đ và 01(một) bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà. Thời điểm bà ký hợp đồng dịch vụ và đưa tiền tạm ứng cho ông P thì bà không có quan hệ hôn nhân với ai.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Biện Tấn P trình bày: Ông thừa nhận có nhận làm dịch vụ giấy tờ cấp về việc cấp mới đăng ký cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lần đâu, sau đó gộp thửa đất và tách thành 04 GCNQSDĐ cho bà Võ Thị H với giá 185.000.000đ như bà H trình bày. Ông xác định đã nhận số tiền tạm ứng của bà H, chia làm 03 đợt với tổng số tiền là 85.000.000đ để thực hiện các thủ tục và các bên lập 01 (một) “Giấy tạm ứng tiền đợt 1" viết tay, trong đó thể hiện số tiền tạm ứng và nội dung dịch vụ bà H yêu cầu ông P thực hiện. Việc lập giấy tạm ứng tiền có bà Võ Thị Kim H1 (con bà H) chứng kiến. Đồng thời, ông có nhận của bà H 01(một) bản chính GCNQSDĐ đứng tên bà H để làm thủ tục. Sau khi nhận thực hiện công việc cho bà H, do ông Võ Đồng T là trưởng thôn, đồng thời là người làm chứng ký vào biên bản nên hồ sơ không thực hiện được. Ông cho rằng việc không thực hiện được công việc là do lỗi của bà H nên ông không đồng ý trả lại số tiền đã nhận và GCNQSDĐ cho bà H. Thời điểm ông ký kết hợp đồng dịch vụ và nhận tiền của bà H thì ông đang có quan hệ hôn nhân với bà Đỗ Thị Bích L.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Bích L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia nên không có ý kiến trình bày.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng bà Võ Thị Kim H1 trình bày: Bà là con của bà Võ Thị H. Bà có chứng kiến sự việc giữa bà H và ông P lập giấy tạm ứng tiền đợt 1 và bà H có đưa tiền cho ông P. Ngoài ra, bà không còn chứng kiến sự việc nào khác.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà H giữ nguyên ý kiến về việc hủy hợp đồng dịch vụ; bà H thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền trả lại, đề nghị ông P chỉ trả lại số tiền 45.000.000đ; đối với GCNQSDĐ bà đã nhận lại nên bà đề nghị không xem xét. Bị đơn ông P thay đổi ý kiến, ông P thống nhất với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà H.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa phát biểu như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến tham dự theo Giấy triệu tập của Tòa án là vi phạm Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Qua quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án có căn cứ cho rằng: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Võ Thị H, hủy hợp đồng dịch vụ giữa bà Võ Thị H và ông Biện Tấn P; ông P phải trả cho nguyên đơn bà H số tiền là 45.000.000 đồng và 01(một) bản chính GCNQSDĐ đứng tên bà H, trả 01 lần ngay khi án phát sinh hiệu lực pháp luật. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Bích L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Đỗ Thị Bích L.
[1.2] Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
[1.3] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Biện Tấn P hiện đang cư trú tại Thôn Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Ninh Hoà theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.4] Nguyên đơn bà Võ Thị H đã có đơn tố giác về hành vi của ông Biện Tấn P có dấu hiệu vi phạm hình sự đến Công an thị xã N. Sau khi nghiên cứu, Công an thị xã N có văn bản số 314/HD-DDT2 ngày 31/10/2024 trả lời đơn tố giác của bà H không thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an thị xã N và đây là tranh chấp dân sự. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa giải quyết theo trình tự của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.5] Về việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà H thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền yêu cầu bị đơn ông P trả lại và đề nghị không xem xét đối với yêu cầu trả lại GCNQSDĐ. Hội đồng xét xử nhận thấy việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của bà H không vượt quá yêu cầu khởi kiện nên có cơ sở chấp nhận.
[2] Về nội dung:
Ông Biện Tấn P có nhận làm dịch vụ giấy tờ cấp về việc cấp mới đăng ký cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lần đâu, sau đó gộp thửa đất và tách thành 04 GCNQSDĐ cho bà Võ Thị H với giá 185.000.000đ. Các bên có lập 01 (một) “Giấy tạm ứng tiền đợt 1" viết tay, trong đó thể hiện số tiền tạm ứng và nội dung dịch vụ bà H yêu cầu ông P thực hiện. Việc lập giấy tạm ứng tiền có bà Võ Thị Kim H1 (con bà H) chứng kiến. Tháng 4/2022, bà H có đưa tiền tạm ứng cho ông P, chia làm 03 đợt với tổng số tiền là 85.000.000đ, để làm chi phí thực hiện các thủ tục. Đồng thời, bà H có đưa cho ông P 01(một) bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CP 767370, số vào sổ cấp GCN CS 00779 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 14/12/2018, thửa đất số 28, TBĐ số 15, diện tích 435 m² tại Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, đứng tên người sử dụng bà Võ Thị H để làm thủ tục. Từ khi nhận được tiền tạm ứng, ông P không thực hiện được nên phát sinh tranh chấp. Do đó, bà yêu cầu hủy hợp đồng dịch vụ đã ký và buộc ông P phải trả lại số tiền đã nhận là 85.000.000đ và 01(một) bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà. Trong quá trình giải quyết vụ án, do ông P đang gặp khó khăn nên bà H thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông P trả lại số tiền 45.000.000đ và ông P đã tự nguyện trả lại cho bà 0một) GCNQSDĐ đã nhận của bà nên bà không yêu cầu xem xét. Ông P thống nhất toàn bộ ý kiến của bà H.
[2.1] Xét về hình thức và nội dung hợp đồng dịch vụ được thể hiện qua Giấy tạm ứng tiền đợt 1: Các bên thỏa thuận với nhau có nội dung ông P nhận thực hiện dịch thủ tục cấp mới đăng ký cấp mới GCNQSDĐ lần đầu, sau đó gộp thửa đất và tách thành 04 GCNQSDĐ riêng cho bà H với giá là 185.000.000đ. Sau khi thỏa thuận, bà H có giao số tiền tạm ứng cho ông P là 85.000.000đ, chia làm 03 đợt nhưng ông P không thực hiện được nên phát sinh tranh chấp. Nội dung thỏa thuận giữa các bên được thể hiện qua Giấy tạm ứng tiền đợt 1 (không đề ngày). Do đó, có đủ căn cứ xác định việc thỏa thuận của các bên là hợp đồng dịch vụ được Bộ luật dân sự hiện hành điều chỉnh từ Điều 513 đến Điều 521 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến bị đơn:
[2.2.1] Về yêu cầu hủy hợp đồng dịch vụ và trả lại số tiền 45.000.000đ: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đã thống nhất với nhau về việc hủy hợp đồng dịch vụ đã ký kết và bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 45.000.000đ, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, các bên không đề nghị xem xét hậu quả của việc hủy hợp đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, việc thỏa thuận này không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên cần ghi nhận ý kiến thỏa thuận giữa các bên, hủy hợp đồng dịch vụ đã ký kết được thể hiện qua Giấy tạm ứng tiền đợt 1 (không đề ngày) và bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 45.000.000đ, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, các bên không đề nghị xem xét hậu quả của việc hủy hợp đồng nên không xem xét.
[2.2.2] Về việc trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Bị đơn đã tự nguyện trả lại 01(một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CP 767370, số vào sổ cấp GCN CS 00779 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 14/12/2018, thửa đất số 28, TBĐ số 15, diện tích 435 m² tại Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, đứng tên người sử dụng bà Võ Thị H cho bà H. Bà H đã nhận lại và không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.2.3] Về nghĩa vụ trả tiền: Khi ông P nhận tiền làm dịch vụ cho bà H thì không có mặt bà Đỗ Thị Bích L (vợ ông P) và đây là hợp đồng dịch vụ nên không chứng minh được số tiền mà ông P nhận từ bà H sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà H chỉ yêu cầu cá nhân ông P trả tiền, không yêu cầu bà L trả tiền và số tiền mà bà H giao cho ông P là tiền cá nhân của bà H, không liên quan đến ai khác nên Hội đồng xét xử xác định ông P có nghĩa vụ hoàn trả số tiền cho bà H.
[3] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H được chấp nhận nên ông Biện Tấn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định 45.000.000đ x 5% = 2.250.000đ. Bà H thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí và có đơn đề nghị miễn nộp tạm ứng án nên được miễn nộp tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 423, Điều 427, Điều 513, Điều 514, Điều 515, Điều 516, Điều 517, Điều 518 và Điều 519 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 264, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Võ Thị H:
- - Hủy nội dung hợp đồng dịch vụ được thể hiện theo Giấy tạm ứng tiền đợt 1 (không đề thời gian) giữa bà Võ Thị H và ông Biện Tấn P.
- - Buộc ông Biện Tấn P có nghĩa vụ phải trả một lần cho Võ Thị H số tiền 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng). Thời gian thực hiện trả ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.
Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí: Ông Biện Tấn P phải nộp 2.250.000đ (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm. Bà H thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí và có đơn đề nghị miễn nộp tạm ứng án nên được miễn nộp tạm ứng án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
* Quy định chung: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Đạt |
Bản án số 37/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 37/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: DS
