Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/DS-ST.

Ngày: 25-6-2025.

V/v: “Đòi lại tài sản”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hiển.

2. Bà Nguyễn Thị Minh Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 và 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 457/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp: “Đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 07/2025/QĐST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2025; giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.

Địa chỉ trụ sở chính: Số D N, phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P - Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình L - Chức vụ: Phó Giám đốc Phòng Quản lý nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (Theo Giấy ủy quyền số 1214/UQ-QLN.24 ngày 06/8/2024 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á).

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Thành N - Chức vụ: Nhân viên xử lý nợ (Theo Giấy ủy quyền số 1459/UQ-QLN.24 ngày 04/9/2024 (Có mặt).

Địa chỉ liên lạc: Số A T, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2/ Bị đơn: Ông Trần Thạch T - Sinh năm 1983 (Có mặt).

Nơi thường trú: Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Hiện trú tại: Thôn L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa; người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Thành N trình bày:

Ngày 07/4/2011, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (Viết tắt là Ngân hàng) cấp cho ông Trần Thạch T 01 thẻ tín dụng với số tiền vay là 50.000.000 đồng. Thẻ Ngân hàng cấp cho ông T là thẻ Visa, hiệu lực thẻ đến ngày 07/4/2014. Căn cứ tại bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Á thì lãi suất là 25.8%/năm, lãi suất quá hạn là 38.7%/năm. Từ khi vay của Ngân hàng đến nay ông Trần Thạch T đã sử dụng số tiền 55.763.344 đồng từ thẻ tín dụng.

Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Trần Thạch T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 28/02/2012 Ngân hàng đã chuyển khoản nợ thẻ tín dụng sang nợ quá hạn đối với khoản vay của ông T. Đồng thời quyết định chấm dứt việc sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán của ông T.

Tính đến ngày 20/6/2025, ông T còn nợ của Ngân hàng số tiền là 366.426.675 đồng; trong đó: Nợ gốc là 55.763.344 đồng; nợ lãi quá hạn là 310.663.331 đồng.

Ông Trần Thạch T có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện thì ông đại diện cho Ngân hàng đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.

Tại phiên tòa ngày 25/6/2025, ông Nguyễn Thành N rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền lãi quá hạn là 310.663.331 đồng, chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc là 55.763.344 đồng.

Về án phí: Ông Nguyễn Thành N đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại “Bản tự khai”, “Biên bản lấy lời khai của đương sự”; trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là ông Trần Thạch T trình bày như sau:

Vào năm 2010, ông làm Giám đốc tại Công ty TNHH Đ (Viết tắt là Công ty) của anh rể là ông Trần Văn C. Trong quá trình ông làm Giám đốc của Công ty thì vào năm 2011, Công ty có thực hiện chính sách hỗ trợ để Giám đốc ngoại giao, tiếp khách bên ngoài nên ngày 07/4/2011, ông đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng để đề nghị Ngân hàng cấp 01 thẻ tín dụng với số tiền 50.000.000 đồng. Do thời điểm này ông làm Giám đốc của Công ty nên thẻ này do Công ty quản lý, khi nào ông đi tiếp khách thì Công ty đưa cho ông. Việc ông sử dụng thẻ tín dụng thì khi trả tiền lại vào thẻ cho Ngân hàng là do kế toán của Công ty thực hiện.

Ông không nhớ thời điểm ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 07/4/2011 thì lãi suất là bao nhiêu. Do thời gian đã lâu nên ông cũng không nhớ đã sử dụng hết số tiền được cấp tại thẻ tín dụng trên cụ thể như thế nào. Sau đó ông nghỉ việc được khoảng vài tháng thì Công ty phá sản nên tài sản của Công ty đã thanh lý hết.

Nay Ngân hàng khởi kiện thì ông đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, ông đồng ý trả số tiền nợ gốc là 55.763.344 đồng cho Ngân hàng.

Về án phí: Ông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận:

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về rút một phần yêu cầu khởi kiện:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền gốc, lãi quá hạn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 07/4/2011 (Gọi tắt là Hợp đồng). Đến phiên tòa ngày 25/6/2025, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc. Hội đồng xét xử xác định việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên căn cứ vào Điều 244 của Bộ luật tố tụng Dân sự (Viết tắt là BLTTDS), chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết:

Bị đơn là ông Trần Thạch T có nơi cư trú tại khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

[1.3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền gốc, lãi quá hạn theo Hợp đồng đã ký kết. Quá trình thực hiện Hợp đồng, bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 28/02/2012 nguyên đơn đã chuyển khoản nợ thẻ tín dụng sang nợ quá hạn. Do đó, thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm là thời điểm bị đơn vi phạm nghĩa vụ của bên vay là ngày 28/02/2012 nên thời hiệu khởi kiện để giải quyết vụ án là 03 năm kể từ ngày 28/02/2012. Ngày 09/10/2024, nguyên đơn mới nộp đơn khởi kiện nên thời hiệu khởi kiện về Hợp đồng đã hết. Tại “Đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện trong vụ án dân sự” ngày 21/02/2025, bị đơn đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Đòi lại tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 26, Điều 184, Điều 185 của BLTTDS năm 2015; Điều 256 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 166, 429, 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[2.1] Về yêu cầu trả nợ gốc:

Căn cứ lời khai của các đương sự thể hiện: Ngày 07/4/2011, ông Trần Thạch T ký Hợp đồng với Ngân hàng để được cấp hạn mức sử dụng thẻ tín dụng (vay) số tiền là 50.000.000 đồng. Sau khi ký Hợp đồng, ông T đã được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng và nhận đủ số tiền vay. Như vậy Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng và ông T được ký kết trên cơ sở tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức của Hợp đồng đúng quy định của pháp luật nên xác định là Hợp đồng hợp pháp. Theo các tài liệu, chứng cứ Ngân hàng cung cấp và lời khai thừa nhận của bị đơn thì từ ngày vay đến ngày 28/02/2012, ông T đã thực hiện các giao dịch và số dư nợ gốc ông T còn nợ Ngân hàng là 55.763.344 đồng nhưng đến nay chưa trả. Bởi vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc này và bị đơn đồng ý nên có cơ sở để công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[2.2] Về lãi suất:

Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bị đơn trả nợ số tiền lãi quá hạn là 310.663.331 đồng. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện. Căn cứ quy định tại Điều 244 của BLTTDS; Hội đồng xét xử chấp nhận, đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí:

Căn cứ quy định tại Điều 147 của BLTTDS; các Điều 24, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4.1].

Bị đơn là ông Trần Thạch T phải chịu số tiền 2.788.000 đồng (Đã làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm (Cách tính: 55.763.344 đồng x 5%).

[4.2].

Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại số tiền án phí dân sự đã nộp tạm ứng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 184, 185, 244, 271, 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015

Điều 159 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011

Các Điều 255, 256 của Bộ luật Dân sự năm 2005

Các Điều 164, 166, 429, 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Các Điều 24, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14gày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc bị đơn là ông Trần Thạch T trả cho nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền nợ gốc đã vay là 55.763.344 đồng (Năm mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi tư đồng).
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á về việc buộc ông Trần Thạch T phải trả số tiền lãi quá hạn là 310.663.331 đồng (Ba trăm mười triệu, sáu trăm sáu mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi mốt đồng).
  4. Về án phí:
    1. Ông Trần Thạch T phải chịu 2.788.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm tám mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền 8.646.000 đồng (Tám triệu, sáu trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003273 ngày 15/10/2024 của Chi cục thi hành dân sự thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, bị đơn - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 25-6-2025)./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;
  • - Chi cục THADS Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/DS-ST. ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về đòi lại tài sản

  • Số bản án: 37/2025/DS-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đòi lại tài sản giữa Ngân hàng A với ông Trần Thạch T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger